MỚI

Nhiễm virus HPV ở người

Ngày xuất bản: 01/12/2022

Nhiễm virus HPV ở người

Các nhà khoa học đã phát hiện có khoảng 150 chủng virus HPV khác nhau, ít nhất 40 chủng trong số này gây bệnh tại bộ phận sinh dục. Phần lớn các trường hợp nhiễm HPV tự khỏi không cần điều trị và không có triệu chứng hoặc khó có thể phát hiện. Những người có hoạt động tình dục sẽ bị nhiễm HPV vào một thời điểm nào đó trong đời. Nhiễm HPV làm tăng nguy cơ bị ung thư (ví dụ: HPV16 và HPV18) gây ra phần lớn các bệnh ung thư cổ tử cung, dương vật, âm hộ, âm đạo, hậu môn và ung thư hầu họng và tiền ung thư. Trong khi nhiễm HPV chủng khác (ví dụ, HPV6 và HPV11) gây ra mụn cóc sinh dục và u nhú tái phát ở đường hô hấp. Nhiễm HPV gây ung thư dai dẳng là yếu tố, nguy cơ mạnh nhất đối với quá trình phát triển của các bệnh ung thư và tiền ung thư. Ở Hoa Kỳ, một tỷ lệ đáng kể các bệnh ung thư và mụn cóc sinh dục là do virus HPV. Ước tính mỗi năm có khoảng 34.800 ca ung thư do HPV mới, trong giai đoạn 2012–2016. Trước khi có vaccine HPV, hang năm ghi nhận khoảng 355.000 trường hợp mắc bệnh sùi mào gà mới.

Phòng ngừa HPV

Vaccine phòng HPV

3 loại vắc – xin ngừa HPV được cấp phép tại Hoa Kỳ: Ceravrix, một loại vắc – xin 2 hóa trị (2vHPV) nhằm phòng ngừa 2 loại HPV16 và HPV18; Gardasil, một loại vắc – xin 4 hóa trị phòng chủng HPV 6, 11, 16 và 18. Vắc – xin Gardasil (9vHPV) ngừa các loại HPV 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52 và 58. Trong đó có 2 chủng đặc biệt HPV 16, 18 chiếm 66% gây nên ung thư cổ tử cung, trong khi loại vắc – xin 9 hóa trị phòng ngừa 5 chủng HPV chiếm 15% nguyên nhân gây bệnh. Trên 90% yếu tố gây bệnh sùi mào gà từ chủng HPV 6 và 11. Ở Mỹ hiện chỉ có vắc – xin HPV 9 hóa trị.

ACIP khuyến cáo tiêm chủng HPV (https: // www. Cdc.gov/vaccines/hcp/acip-recs/vacc-specific/hpv.html) như sau:

  • Tiêm phòng HPV định kỳ cho tất cả trẻ em ở nhóm tuổi 11 hoặc 12 tuổi.
  • Tiêm vắc – xin bắt đầu từ 9 tuổi.
  • Tiêm vắc – xin đến năm 26 tuổi đối với những người chưa được tiêm chủng trước đó.
  • Không sử dụng vắc – xin HPV đối với người trên 26 tuổi. Đối với người lớn từ 27 đến 45 tuổi chưa được tiêm chủng trước đó: Những người này cần trao đổi với các bác sĩ lâm sàng để đưa ra quyết định xem họ có nên tiêm vắc – xin hay không.
  • Lịch chủng ngừa 2 liều (cách nhau 6 tháng) được khuyến nghị cho những người bắt đầu tiêm chủng dưới 15 tuổi.
  • Lịch tiêm chủng ngừa HPV, 3 liều (khoảng thời gian tối thiểu là 4 tuần giữa liều thứ nhất và liều thứ 2, 12 tuần giữa liều thứ 2 và liều thứ 3) cho những người bị suy giảm miễn dịch bất kể bắt đầu tiêm từ độ tuổi nào.

Vắc – xin ngừa HPV không được khuyến cáo sử dụng cho phụ nữ mang thai. Có thể tiêm vắc – xin HPV bất kể tiền sử mắc mụn cóc sinh dục, xét nghiệm Pap bất thường hoặc xét nghiệm HPV, hoặc tiền ung thư cơ quan sinh dục. Phụ nữ đã tiêm phòng HPV nên tiếp tục tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ (xem phần Ung thư cổ tử cung). Vắc – xin HPV dùng cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 19 tuổi thông qua chương trình Vắc – xin cho Trẻ em (VFC) (thông tin bổ sung có tại https://www.cdc.gov/vaccines/programs/vfc/index.html hoặc gọi điện đến CDC 800-232-4636). Đối với những người nằm ngoài độ tuổi dưới 19 tuổi, các chương trình hỗ trợ bệnh nhân từ nhà sản xuất vắc – xin. Đánh giá mức độ an toàn trước và sau khi được cấp phép khá hiệu quả. Với hơn 120 triệu liều vắc – xin HPV được phân phối ở Hoa Kỳ, con số lớn đã chứng minh rằng vắc – xin HPV an toàn (https://www.cdc.gov/vaccinesafety). Các nghiên cứu theo dõi hiệu quả của vắc – xin ngừa HPV ở Mỹ cho thấy giảm số trường hợp bị mụn cóc sinh dục cũng như mắc các chủng HPV có trong vắc – xin hóa trị 4. Các cơ sở cung cấp dịch vụ STI phải cung cấp vắc – xin cho những khách hàng đủ điều kiện trong nhóm tuổi tiêm định kỳ đến năm 26 tuổi là những người chưa tiêm hoặc chưa hoàn thành việc tiêm vắc – xin hoặc kết nối những người này với một cơ sở khác để họ được tiếp cận vắc – xin. Các bác sĩ chuyên khoa cho trẻ em, thanh thiếu niên và thanh niên nên tìm hiểu về HPV và vắc – xin ngừa HPV (https://www.cdc.gov/vaccines/who/ teens/cho-hcp/hpv-nhac.html). Tiêm phòng HPV không liên quan đến việc bắt đầu hoạt động tình dục hoặc các hành vi quan hệ tình dục.

Kiêng hoạt động tình dục là biện pháp hàng đầu ngăn ngừa nhiễm HPV. Mọi người có thể giảm nguy cơ lây nhiễm bằng cách sử dụng bao cao su phù hợp, đúng cách và hạn chế quan hệ tình dục với nhiều người. Mặc dù những biện pháp can thiệp này có thể không hoàn toàn bảo vệ bạn khỏi nguy cơ lây nhiễm HPV, nhưng có thể làm giảm lây nhiễm và lây truyền HPV.

Thăm khám và chẩn đoán

Các xét nghiệm HPV để phát hiện bị nhiễm chủng HPV nào gây ung thư và được sử dụng trong việc tầm soát ung thư cổ tử cung hoặc theo dõi mô học hoặc tế bào cổ tử cung bất thường (xem phần Ung thư cổ tử cung). Các xét nghiệm này không áp dụng cho bạn tình nam của phụ nữ bị nhiễm HPV hoặc phụ nữ dưới 25 tuổi, mà để chẩn đoán mụn cóc sinh dục hoặc xét nghiệm STI nói chung.

Sử dụng axit axetic nồng độ 3% –5%, có thể làm cho các vùng bị ảnh hưởng chuyển sang màu trắng, đã được một số nơi sử dụng để phát hiện niêm mạc sinh dục bị nhiễm HPV. Khám định kỳ theo quy trình này để phát hiện những thay đổi niêm mạc do nhiễm HPV nhưng không được khuyến khích vì kết quả không ảnh hưởng đến việc thăm khám lâm sàng.

Điều trị

Việc điều trị hướng đến các tổn thương đại thể (ví dụ, mụn cóc sinh dục) hoặc các tổn thương tiền ung thư bệnh lý do HPV gây ra. Nhiễm HPV sinh dục cận lâm sàng thường tự khỏi; do đó, liệu pháp kháng virus cụ thể không được sử dụng trong khi điều trị/ loại bỏ virus HPV. Các bệnh lý tiền ung thư được phát hiện thông qua tầm soát ung thư cổ tử cung; Những bệnh lý tiền ung thư liên quan đến HPV cần được tầm soát trên cơ sở hướng dẫn hiện có (xem phần Ung thư cổ tử cung).

Tư vấn

Thông điệp chính cho những người bị nhiễm virus HPV

Khi tư vấn cho những người bị nhiễm HPV bẩm sinh, các cơ sở thăm khám nên thảo luận những điều sau:

  • Nhiễm HPV bẩm sinh rất phổ biến. Bệnh thường lây nhiễm ở vùng hậu môn sinh dục nhưng có thể lây lan sang các vùng khác, như miệng và cổ họng. Phần lớn những người quan hệ tình dục bị nhiễm HPV ở một thời điểm nào đó, mặc dù hầu hết mọi người đều không thấy có biểu hiện..
  • Nhiễm virus HPV từ bạn tình, và ban đầu không thể xác định bạn tình đã lây truyền bệnh. Nhiễm HPV không có nghĩa là một người nam hay nữ có quan hệ tình dục khác bên ngoài.
  • Những người nhiễm HPV thường khó nhận biết, có nghĩa là không thể phát hiện được/ tự khỏi HPV mà không có vấn đề sức khỏe liên quan.
    • Nếu tình trạng nhiễm HPV vẫn còn, mụn cóc sinh dục, tiền ung thư và ung thư cổ tử cung, hậu môn, dương vật, âm hộ, âm đạo, đầu hoặc cổ có thể phát triển.
    • Trao đổi về việc sử dụng thuốc lá và cung cấp dịch vụ tư vấn cai thuốc lá, rất quan trọng vì nó góp phần vào sự tiến triển của tiền ung thư và ung thư.
    • Các chủng HPV gây mụn cóc sinh dục khác với các chủng có thể gây ung thư.
    • Nhiều chủng HPV lây truyền qua đường tình dục thông qua tiếp xúc ở bộ phận sinh dục, chủ yếu là khi quan hệ tình dục qua đường âm đạo và hậu môn. HPV cũng có thể lây truyền khi quan hệ tình dục bằng miệng và tiếp xúc giữa bộ phận sinh dục với bộ phận sinh dục mà không có sự xâm nhập. Trong một số trường hợp hiếm hoi, phụ nữ mang thai có thể truyền virus HPV cho trẻ sơ sinh trong quá trình sinh nở.
    • Các phương pháp điều trị các bệnh lý do HPV gây ra nhưng không áp dụng cho chính virus này.
    • Nhiễm HPV không làm cho phụ nữ khó mang thai hoặc mang thai đủ tháng. Tuy nhiên, virus HPV có thể gây ra một số bệnh tiền ung thư hoặc ung thư và cần phải phẫu thuật để điều trị. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng mang thai hoặc mang thai đủ tuần của phụ nữ.
    • Không có xét nghiệm HPV nào có thể xác định được người bệnh mắc chủng HPV nào cũng như không thể phát hiện được chủng nào sẽ tồn tại hoặc tiến triển thành bệnh. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, xét nghiệm HPV có thể xác định xem một phụ nữ có nguy cơ cao mắc ung thư cổ tử cung hay không. Các xét nghiệm này không phải để phát hiện các vấn đề khác liên quan đến HPV, cũng không hữu ích cho phụ nữ dưới 25 tuổi hoặc nam giới ở mọi lứa tuổi.
  • Phòng ngừa

    • Ba loại vắc – xin HPV có thể ngăn ngừa các bệnh lý và ung thư do HPV gây ra. Các loại vắc – xin 2, 4 và 9 hóa trị giúp chống lại phần lớn các trường hợp ung thư cổ tử cung, mặc dù vắc – xin 4vHPV và 9vHPV cũng chống lại phần lớn bệnh mụn cóc sinh dục. Chỉ có vắc – xin 9vHPV được cấp phép ở Hoa Kỳ. Vắc – xin HPV an toàn và hiệu quả và được khuyến cáo tiêm phòng đinh kỳ cho thanh thiếu niên từ 11-12 tuổi. Tiêm phòng định kỳ cũng được khuyến nghị áp dụng cho thanh niên và những người dưới 26 tuổi (https://www.cdc.gov/hpv/hcp/ index.html). Việc tiêm chủng ngừa HPV cho một số người lớn trong độ tuổi từ 27–45 tuổi chưa được tiêm chủng đầy đủ theo hướng dẫn (https://www.cdc.gov/mmwr/volumes/68/wr/pdfs/mm6832a3-H). pdf).
    • Sử dụng bao cao su thường xuyên và đúng cách có thể làm giảm nguy cơ nhiễm và lây truyền HPV và giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến HPV (ví dụ: mụn cóc sinh dục hoặc ung thư cổ tử cung). Tuy nhiên, vì virus HPV có thể lây nhiễm sang các khu vực không có bao cao su bảo vệ. Vì vậy, dù có sử dụng bao cao su không đảm bảo hoàn toàn bạn sẽ bị nhiễm HPV.
    • Hạn chế số lượng bạn tình có thể làm giảm nguy cơ nhiễm HPV. Tuy nhiên, ngay cả những người chỉ có một bạn tình cũng có thể bị nhiễm HPV.
    • Kiêng sinh hoạt tình dục là phương pháp hiệu quả nhất giúp ngăn ngừa nhiễm HPV sinh dục.

    Mụn cóc sinh dục

    Mụn cóc sinh dục là một bệnh phổ biến và 90% là do virus HPV không gây hại như HPV 6 hoặc 11. Những loại này thường có thể được xác định trước hoặc cùng thời điểm phát hiện mụn cóc sinh dục. Các chủng HPV 16, 18, 31, 33 và 35 đôi khi cũng phát hiện ở mụn cóc sinh dục (thường là nhiễm HPV 6 hoặc 11) và có thể liên quan đến các ổ tổn thương trong biểu mô vảy độ cao (HSIL), đặc biệt ở những người bị nhiễm HIV. Ngoài mụn cóc sinh dục, HPV 6 và 11 có liên quan đến mụn cóc ở kết mạc, mũi, miệng và thanh quản. Mụn cóc sinh dục thường không có triệu chứng; tuy nhiên,

    tùy thuộc vào kích thước và vị trí giải phẫu, chúng có thể gây đau hoặc ngứa. Chúng thường là những nốt dẹt, sẩn hoặc mọc thành từng đám trên niêm mạc bộ phận sinh dục. Mụn cóc sinh dục thường xuất hiện ở một số vị trí nhất định, như xung quanh âm đạo, dưới bao quy đầu của dương vật chưa cắt bao quy đầu và trên trục của dương vật đã cắt bao quy đầu. Mụn cóc cũng có thể xuất hiện ở nhiều vị trí trong biểu mô sinh dục hoặc trong đường sinh dục (ví dụ: cổ tử cung, âm đạo, niệu đạo, đáy chậu, da quanh hậu môn, hậu môn hoặc bìu). Mụn cóc trong hậu môn chủ yếu được quan sát thấy ở những người đã có quan hệ tình dục qua đường hậu môn, tuy nhiên, chúng cũng có thể xảy ra ở nam và nữ chưa có tiền sử quan hệ tình dục qua đường hậu môn.

    Phòng ngừa

    Ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Hoa Kỳ, tình trạng mụn cóc sinh dục đã giảm ở thanh thiếu niên, phụ nữ trẻ và nam giới quan hệ tình dục khác giới khi đã tiêm vắc – xin ngừa HPV.

    Thăm khám và chẩn đoán

    Chẩn đoán mụn cóc sinh dục thường được thực hiện bằng cách kiểm tra trực quan nhưng có thể được xác định bằng sinh thiết, được chỉ định điều trị nếu tổn thương bất thường (ví dụ: tổn thương sắc tố, không bão hòa, dính vào mô bên dưới, chảy máu hoặc loét). Sinh thiết cũng có thể được chỉ định trong những trường hợp sau, đặc biệt nếu bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch (bao gồm cả những người nhiễm HIV): chẩn đoán không chắc chắn, tổn thương không đáp ứng với liệu pháp điều trị tiêu chuẩn, hoặc bệnh nặng hơn trong quá trình điều trị. Xét nghiệm HPV không để chẩn đoán mụn cóc sinh dục vì kết quả xét nghiệm không rõ ràng và không hướng dẫn cách chăm sóc mụn cóc sinh dục. Một số tổn thương ở bộ phận sinh dục có thể giống với mụn cóc sinh dục (condyloma Accuinata), nhưng không điều trị như mụn cóc ở bộ phận sinh dục. Condyloma lata, một biểu hiện của giang mai thứ phát, có thể được chẩn đoán bằng các xét nghiệm huyết thanh hoặc thông qua phát hiện trực tiếp từ dịch huyết thanh từ các tổn thương (xem Bệnh giang mai, Thăm khám và chẩn đoán).

    Điều trị

    Mục đích của điều trị là loại bỏ mụn cóc và cải thiện các triệu chứng, nếu có. Sự xuất hiện của mụn cóc cũng có thể ảnh hưởng đáng kể tới tâm lý xã hội và việc điều trị có thể làm giảm lo lắng về thẩm mỹ. Đối với hầu hết bệnh nhân, điều trị có kết quả là giải quyết được mụn cóc. Nếu không được điều trị, mụn cóc sinh dục có thể tự khỏi, không thay đổi hoặc tăng về kích thước hoặc số lượng. Vì mụn cóc có thể tự khỏi trong vòng 1 năm. Nên thay vì điều trị mụn cóc, một số người đã để mụn tự mất đi. Các liệu pháp điều trị mụn cóc sinh dục hiện có có thể làm giảm, nhưng không loại bỏ được khả năng lây nhiễm HPV. Liệu việc giảm DNA của virus HPV do điều trị có làm giảm khả năng lây truyền trong tương lai hay không vẫn chưa được chứng minh.

    Điều trị mụn cóc sinh dục nên giải quyết kích thước, số lượng và vị trí giải phẫu của mụn cóc; nhu cầu của bệnh nhân; chi phí điều trị; sự thuận lợi; tác dụng phụ; và kinh nghiệm của cơ sở điều trị. Không có bằng chứng xác thực nào chỉ ra rằng bất kỳ phương pháp điều trị nào được khuyến nghị là ưu việt hơn phương pháp điều trị khác và không có phương pháp điều trị duy nhất nào là lý tưởng cho tất cả bệnh nhân hoặc tất cả các loại mụn cóc. Việc điều trị cần có sự trao đổi giữa cơ sở điều trị với bệnh nhân, cần đảm bảo việc cải thiện kết quả lâm sàng và cần được khuyến khích. Bởi vì tất cả các phương pháp điều trị hiện nay đều có những hạn chế, các bác sĩ lâm sàng đôi khi sử dụng liệu pháp kết hợp (ví dụ, liệu pháp áp lạnh do cơ sở điều trị thực hiện với liệu pháp tại chỗ do bệnh nhân áp dụng giữa các lần khám bệnh). Tuy nhiên, những dữ liệu không đầy đủ hiện có nói về hiệu quả hoặc nguy cơ xảy ra biến chứng liên quan đến điều trị kết hợp. Các phác đồ điều trị được phân loại là phương thức do bệnh nhân áp dụng hoặc do cơ sở điều trị thực hiện. Các phương thức áp dụng cho bệnh nhân được một số người ưa thích vì người bệnh có thể tự thực hiện ngay tại nhà. Để đảm bảo các phương pháp do bệnh nhân áp dụng có hiệu quả, nên hướng dẫn cho bệnh nhân ngay tại phòng khám, và tất cả các mụn cóc sinh dục phải được tiếp cận và xác định trong quá trình thăm khám tại phòng khám. Cần tái khám sau thời gian điều trị để các bác sĩ giải đáp mọi thắc mắc về việc sử dụng thuốc, giải quyết bất kỳ tác dụng phụ nào mà bệnh nhân gặp phải tạo điều kiện đánh giá đáp ứng về việc điều trị.

    Các phác đồ được đề xuất cho mụn cóc sinh dục bên ngoài (tức là, dương vật, háng, bìu, âm hộ, tầng sinh môn, hậu môn ngoài hoặc hậu môn) *

    Hoặc

    Áp dụng cho bệnh nhân: Imiquimod 3,75% hoặc kem 5%

    Podofilox 0,5% dung dịch hoặc gel

    Thuốc mỡ Sinecatechins 15% †

    Do nhà cung cấp quản lý: Phương pháp áp lạnh với nitơ lỏng hoặc tủ lạnh

    Imiquimod là một chất tăng cường miễn dịch hoạt động tại chỗ, được bệnh nhân sử dụng để kích thích sản xuất interferon và các cytokine khác. Nên thoa kem Imiquimod 5% một lần trước khi đi ngủ, 3 lần / tuần trong khoảng 16 tuần. Tương tự, kem imiquimod 3,75% nên được thoa một lần trước khi đi ngủ mỗi đêm trong 8 tuần. Với bất kỳ công thức nào, vùng điều trị phải được vệ sinh sạch bằng sữa tắm và nước từ 6–10 giờ sau khi sử dụng. Các phản ứng viêm tại chỗ, bao gồm mẩn đỏ, kích ứng, chai cứng, loét hoặc xói mòn và mụn nước có thể xảy ra khi sử dụng imiquimod và giảm sắc tố da cũng đã được mô tả. Các báo cáo trường hợp hạn chế cho thấy mối liên quan giữa việc điều trị bằng kem imiquimod và các bệnh da liễu do viêm hoặc tự miễn dịch trở nên tồi tệ hơn (ví dụ: bệnh vẩy nến, bạch biến hoặc da liễu lichenoid). Dữ liệu từ các nghiên cứu về những người tham gia bị hạn chế về việc sử dụng imiquimod trong thời kỳ mang thai; tuy nhiên, dữ liệu trên động vật chỉ ra rằng liệu pháp này ít gặp rủi ro hơn.

    Podofilox (podophyllotoxin) là một loại thuốc chống phân bào do bệnh nhân bôi gây hoại tử mụn cơm. Dung dịch podofilox (dùng tăm bông) hoặc gel podofilox (dùng ngón tay) bôi lên mụn cóc sinh dục 2 lần / ngày, liên tục trong 3 ngày, 4 ngày sau đó không điều trị. Chu kỳ lặp đi lặp lại có thể lên đến 4 lần nếu cần. Tổng diện tích mụn cóc được điều trị không được vượt quá 10cm2 và tổng thể tích của podofilox phải được giới hạn ở 0,5 mL/ ngày. Nếu có thể, các cơ sở điều trị, chăm sóc sức khỏe nên áp dụng phương pháp điều trị ban đầu để chứng minh kỹ thuật ứng dụng phù hợp và xác định loại mụn cóc nào cần điều trị. Sau khi điều trị, người bệnh thường thấy xuất hiện các cơn đau thể nhẹ hay mức trung bình hoặc bị kích ứng cục bộ. Sau mỗi lần điều trị, gel hoặc dung dịch phải được để khô. Bệnh nhân nên rửa tay trước và sau mỗi lần bôi thuốc. Podofilox được chống chỉ định trong thời kỳ mang thai.

    Sinecatechins là một chiết xuất trà xanh được bệnh nhân bôi với một sản phẩm hoạt tính (catechin). Nên bôi thuốc mỡ Sinecatechins 15% 3 lần / ngày (thuốc mỡ sợi 0,5 cm cho mỗi mụn cóc) bằng cách sử dụng ngón tay để có thể bôi một lớp thuốc mỡ mỏng cho đến khi hoàn toàn sạch mụn cóc. Sau 16 tuần, bạn nên dừng loại thuốc này. Và sau khi bôi thuốc, bạn không được rửa chỗ bôi. Nên tránh quan hệ tình dục qua bộ phận sinh dục, hậu môn và miệng khi bôi thuốc mỡ trên da. Các tác dụng phụ thường gặp nhất của sinecatechin là ban đỏ, ngứa hoặc bỏng rát, đau, loét, phù nề, chai cứng và mụn nước

    Phẫu thuật cắt bỏ bằng cách cắt kéo tiếp tuyến, cắt tiếp tuyến, nạo, laser hoặc đốt điện

    Hoặc

    Dung dịch axit trichloroacetic (TCA) hoặc axit bichloroacetic (BCA) 80% –90%

    * Những người bị mụn cóc bên ngoài hậu môn hoặc quanh hậu môn cũng có thể bị mụn cóc trong hậu môn. Do đó, những người bị mụn cóc bên ngoài hậu môn có thể được hưởng lợi từ việc kiểm tra ống hậu môn bằng cách kiểm tra kỹ thuật số, nội soi tiêu chuẩn hoặc nội soi độ phân giải cao.

    † Có thể làm suy yếu bao cao su và màng ngăn âm đạo phát ban. Thuốc này không được khuyến cáo cho những người bị nhiễm HIV, các tình trạng suy giảm miễn dịch khác hoặc mụn rộp sinh dục vì chưa đánh giá được tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp. Độ an toàn của thuốc sinecatechin đối với phụ nữ mang thai vẫn chưa được chứng minh.

    Phương pháp áp lạnh là một liệu pháp do cơ sở điều trị thực hiện nhằm tiêu diệt mụn cóc bằng cách ly giải tế bào cảm ứng nhiệt. Các cơ sở chăm sóc sức khỏe phải được đào tạo về cách sử dụng chính xác liệu pháp này vì điều trị quá lộ trình hoặc điều trị không đúng cách có thể dẫn đến biến chứng hoặc hiệu quả thấp. Đau trong và sau khi sử dụng nitơ lỏng, sau đó là hoại tử và đôi khi bị phồng rộp, thường gặp. Gây tê tại chỗ (tại chỗ hoặc tiêm) có thể hỗ trợ điều trị nếu mụn cóc xuất hiện ở nhiều vùng hoặc nếu diện tích mụn cóc lớn. Liệu pháp phẫu thuật có ưu điểm là loại bỏ phần lớn mụn cóc trong trong lần thăm khám, điều trị đầu tiên, mặc dù có thể tái phát. Phẫu thuật cắt bỏ cần thăm khám kỹ lưỡng, trang thiết bị bổ sung và đôi khi phải đến điều trị lâu hơn tại các cơ sở y tế. Sau khi gây tê tại chỗ, việc tiêu diệt mụn cóc sinh dục có thể thực hiện bằng phương pháp đốt điện, trong trường hợp này không cần cầm máu thêm. Cần chú ý kiểm soát độ sâu của đốt điện để không để lại sẹo. Ngoài ra, có thể loại bỏ mụn cóc bằng cách cắt bỏ tiếp tuyến bằng dao kéo mổ, bằng tia laser CO2 hoặc bằng cách nạo. Vì hầu hết các mụn cóc là ngoại sinh, quá trình này có thể khiến hình thành vết thương dài đến lớp hạ bì trên. Có thể cầm máu bằng thiết bị đốt điện hoặc trong trường hợp chảy máu nhẹ, dùng dung dịch cầm máu (ví dụ, dung dịch nhôm clorua). Không bắt buộc cũng như không được chỉ định trong hầu hết các trường hợp. Đối với những bệnh nhân có mụn cóc lớn hoặc lan rộng, liệu pháp phẫu thuật, bao gồm cả laser CO2, có thể là giải pháp có lợi nhất; liệu pháp này cũng có thể hữu ích đối với mụn cóc trong miệng, đặc biệt đối với những người bị mụn cóc không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác. Điều trị mụn cóc sinh dục và mụn cóc ở miệng nên được thực hiện trong phòng thông gió bằng cách sử dụng các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn (https://www.cdc.gov/infectcontrol/ Guideline/ Isolation/index.html/ Isolation2007.pdf #trang) và thông gió tại chỗ (ví dụ: , một máy hút khói mùi).

    Axit trichloroacetic (TCA) và axit bichloroacetic (BCA) là những chất ăn da do nhà cung cấp sử dụng có tác dụng tiêu diệt mụn cóc bằng cách đông tụ protein. Mặc dù các chế phẩm này được sử dụng rộng rãi, chúng vẫn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng. Dung dịch TCA có độ nhớt thấp, so với nước và có thể lây lan nhanh chóng và làm tổn thương các mô lân cận nếu sử dụng quá mức. Chỉ nên thoa một lượng nhỏ lên mụn

    cóc và để khô (tức là có sương trắng trên mô) trước khi bệnh nhân ngồi hoặc đứng. Nếu dùng quá liều lượng axi gây ra các cơn đau dữ dội, cần sử dụng natri bicacbonat (tức là muối nở) ở khu vực này, rửa sạch bằng các loại xà phòng rửa dạng lỏng hoặc bôi bột talc để trung hòa axit hoặc loại bỏ axit không phản ứng. Việc điều trị bằng TCA hoặc BCA có thể được lặp lại hàng tuần nếu cần thiết.

     

    Các phác đồ thay thế cho mụn cóc sinh dục bên ngoài

    Có rất ít dữ liệu nói về hiệu quả của các phác đồ thay thế để điều trị mụn cóc sinh dục, bao gồm nhựa podophyllin, interferon tiêm vào da, liệu pháp quang động và cidofovir tại chỗ. Các bác sĩ và người bệnh cần trao đổi về lợi ích và rủi ro của các phác đồ này. Ngoài ra, các phác đồ thay thế có thể có nhiều tác dụng phụ hơn. Nhựa podophyllin không còn là phác đồ được khuyến nghị vì có nhiều phác đồ an toàn hơn và vì đã có báo cáo chỉ ra rằng liệu pháp này gây độc tính toàn thân nghiêm trọng khi dùng nhựa podophyllin lên các vùng mô lớn và không được rửa sạch trong vòng 4 giờ sau khi sử dụng. Nhựa podophyllin 10% –25% trong cồn hỗn hợp benzoin có thể được xem xét để điều trị do cơ sở y tế chỉ định trong điều kiện tuân thủ nghiêm ngặt các khuyến cáo. Thoa Podophyllin lên mỗi mụn cóc và sau đó để khô trong không khí trước khi vùng điều trị tiếp xúc với quần áo. Việc sử dụng quá nhiều hoặc không để khô trong không khí có thể dẫn đến kích ứng cục bộ do sự lan truyền của hợp chất sang các khu vực lân cận và có thể gây độc toàn thân. Việc điều trị có thể được lặp lại hàng tuần, nếu cần thiết. Để tránh khả năng xảy ra các biến chứng liên quan đến sự hấp thụ và độc tính toàn thân, nên giới hạn việc sử dụng ở mức dưới 0,5 mL podophyllin hoặc diện tích mụn cóc nhỏ hơn 10cm2 mỗi buổi; khu vực thực hiện điều trị không được có bất kỳ vết thương hở, vết thương hoặc mô vụn nào; phải rửa sạch hoàn toàn sau 1–4 giờ sau khi sử dụng. Các chế phẩm nhựa podophyllin khác nhau về nồng độ của các thành phần hoạt tính và chất gây độc. Thời hạn sử dụng và độ ổn định của các chế phẩm podophyllin chưa được chỉ ra. Mức dộ an toàn của podophyllin đối với phụ nữ mang thai chưa được chứng minh.

    Khuyến cáo được đề xuất cho mụn cóc thịt ở niệu đạo

    Phương pháp áp lạnh với nitơ lỏng

    hoặc

    Phẫu thuật cắt bỏ

    Khuyến cáo đối với mụn cóc cổ tử cung

    Phương pháp áp lạnh với nitơ lỏng

    hoặc

     

    Dung dịch axit trichloracetic (TCA) hoặc axit bichloroacetic (BCA) 80% –90%

    Quản lý mụn cóc cổ tử cung nên bao gồm tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa. Đối với những phụ nữ bị mụn cóc cổ tử cung ngoại sinh, nên thực hiện đánh giá sinh thiết để loại trừ HSIL trước khi bắt đầu điều trị.

     

    Chế độ khuyến nghị cho mụn cóc trong hậu môn

    Phương pháp áp lạnh với nitơ lỏng

    hoặc

    Phẫu thuật cắt bỏ

    hoặc

    Dung dịch axit trichloracetic (TCA) hoặc axit bichloroacetic (BCA) 80% –90%

    Việc quản lý mụn cóc trong hậu môn nên bao gồm tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa hậu môn trực tràng.

    Theo dõi

    Trong vòng 3 tháng sau khi điều trị mụn cóc sinh dục, người bệnh sẽ thấy hiệu quả. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình điều trị bao gồm ức chế miễn dịch và tuân thủ điều trị. Mụn cóc nằm trên bề mặt ẩm ướt hoặc ở các vùng kẽ thì điều trị tại chỗ sẽ phù hợp nhất. Cần thay đổi phương thức điều trị khác nếu không thấy tình hình được cải thiện đáng kể sau khi hoàn thành đợt điều trị hoặc trong trường hợp có các tác dụng phụ nghiêm trọng; Cần theo dõi hiệu quả và các tác dụng phụ trong suốt quá trình điều trị. Các biến chứng hiếm khi xảy ra nếu điều trị đúng cách. Giảm sắc tố da dai dẳng hoặc theo dõi hyperpigmentation có thể xảy ra với các phương pháp cắt bỏ (ví dụ, áp lạnh và đốt điện) và đã được mô tả với các liệu pháp điều chỉnh miễn dịch (ví dụ, kem imiquimod). Sẹo lõm hoặc phì đại không phổ biến nhưng có thể xảy ra, đặc biệt nếu bệnh nhân không có đủ thời gian để hồi phục giữa các đợt điều trị. Hiếm khi, việc điều trị có thể dẫn đến các hội chứng đau mãn tính (ví dụ, chứng đau âm hộ và giảm cảm giác ở vị trí điều trị) hoặc, trong trường hợp có mụn cóc ở hậu môn, đại tiện đau đớn hoặc lỗ rò.

    Tư vấn

    Khi tư vấn cho những người mắc bệnh sùi mào gà, cơ sở y tế nên trao đổi những điều sau:

    • Nếu không được điều trị, mụn cóc sinh dục có thể biến mất, giữ nguyên, hoặc tăng kích thước hoặc số lượng. Các chủng HPV gây mụn cóc sinh dục khác với các chủng gây ung thư.
    • Phụ nữ bị mụn cóc sinh dục không cần xét nghiệm Pap thường xuyên hơn những phụ nữ bình thường.
    • Không thể xác định chắc chắn thời gian nhiễm HPV. Mụn cóc sinh dục có thể phát triển vài tháng hoặc vài năm sau khi nhiễm HPV.
    • Các chủng HPV gây ra mụn cóc sinh dục có thể được truyền sang người khác, ngay cả khi không có dấu hiệu rõ ràng của mụn cóc. Lây nhiễm HPV có thể từ bạn tình, mặc dù các dấu hiệu của HPV (ví dụ, mụn cóc) có thể chỉ xảy ra ở một hoặc cả hai người.
    • Mặc dù mụn cóc sinh dục phổ biến và lành tính, một số người có thể bị ảnh hưởng tâm lý xã hội đáng kể sau khi nhận được chẩn đoán bị mụn cóc sinh dục.
    • Mặc dù có thể điều trị được mụn cóc sinh dục, nhưng việc điều trị như vậy không tự loại bỏ hoàn toàn được virus. Vì lý do này, mụn cóc sinh dục thường tái phát sau khi điều trị, đặc biệt là trong 3 tháng đầu.
    • Vì mụn cóc sinh dục có thể lây truyền qua đường tình dục, những người bị mụn cóc sinh dục chỉ phát hiện bệnh thông qua xét nghiệm các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. HPV có thể vẫn tồn tại và vẫn có thể lây truyền cho bạn tình ngay cả khi mụn cóc đã biến mất.
    • Bao cao su có thể làm giảm nguy cơ lây truyền mụn cóc sinh dục nếu được sử dụng liên tục và đúng cách; tuy nhiên, HPV có thể lây nhiễm những khu vực không được bao cao su che phủ và có thể không bảo vệ hoàn toàn khỏi HPV.
    • Vaccine cho nam và nữ để ngăn ngừa mụn cóc sinh dục (Gardasil 9) nhưng sẽ không điều trị khi bị nhiễm HPV hoặc mụn cóc sinh dục. Vaccine này có thể ngăn ngừa phần lớn các trường hợp mắc mụn cóc sinh dục ở những người chưa tiếp xúc với các chủng HPV gây mụn cóc.

    Quản lý bạn tình

    Người bệnh nên thông báo cho bạn tình hiện tại về việc mắc bệnh sùi mào gà vì các chủng HPV gây mụn cóc có thể truyền cho bạn tình. Những người này cần được tư vấn nguy cơ họ có thể đã bị nhiễm HPV mặc dù không có dấu hiệu rõ ràng của mụn cóc; do đó, không khuyến khích xét nghiệm HPV đối với bạn tình của những người mắc bệnh sùi mào gà. Đồng thời, thông qua việc khám sức khỏe để phát hiện mụn cóc sinh dục và xét nghiệm các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác rất cần thiết. Bạn tình trong tương lại không cần thiết phải chẩn đoán mắc bệnh sùi mào gà vì thời gian tồn tại của virus sau khi mụn cóc đã biến mất chưa được chỉ ra.

    Thăm khám đặc biệt

    Thai kỳ

    Không nên sử dụng podofilox, podophyllin và sinecatechin trong thời kỳ mang thai. Imiquimod dường như gây ra rủi ro thấp nhưng nên tránh cho đến khi có thêm những nghiên cứu. Mụn cóc có thể phát triển và dễ vỡ khi mang thai. Mặc dù có thể điều trị mụn cóc ở phụ nữ mang thai, nhưng sau sinh thì việc điều trị mới đảm bảo đầy đủ các bước. Hiếm khi, HPV 6 và 11 có thể gây u nhú đường hô hấp ở trẻ sơ sinh và trẻ em, mặc dù con đường lây truyền (tức là thay nhau thai, chu sinh hoặc sau khi sinh) vẫn chưa được chứng minh. Sinh mổ có ngăn ngừa u nhú đường hô hấp ở trẻ sơ sinh và trẻ em hay không không rõ ràng (1230); do đó, sinh mổ không nên được thực hiện chỉ để ngăn ngừa lây nhiễm virus HPV cho trẻ sơ sinh. Sinh mổ được chỉ định cho những phụ nữ mắc bệnh sùi mào gà nếu đường thoát của vùng chậu bị cản trở hoặc nếu sinh thường qua đường âm đạo sẽ dẫn đến chảy máu nhiều. Phụ nữ mang thai bị mụn cóc sinh dục nên được tư vấn về nguy cơ thấp mắc mụn cóc trên thanh quản của trẻ sơ sinh hoặc trẻ em của họ (u nhú đường hô hấp tái phát).

    HIV và các nguyên nhân gây các ức chế miễn dịch

    Những người bị nhiễm HIV hoặc những người bị ức chế miễn dịch có nhiều khả năng bị mụn cóc sinh dục hơn những người không nhiễm HIV. Hơn nữa, những người như vậy có thể có tổn thương lớn hơn hoặc nhiều hơn, có thể không đáp ứng liệu pháp điều trị cũng như những người không đủ khả năng miễn dịch, và có thể tái phát thường xuyên hơn sau khi điều trị. Cho dù là yếu tố nào, chưa có nguồn dữ liệu nào nói về việc điều trị cho những người nhiễm HIV. Các căn bệnh ung thư biểu mô tế bào vảy phát sinh trong hoặc tương tự như mụn cóc sinh dục có thể xảy ra thường xuyên hơn ở những người bị ức chế miễn dịch, do đó cần sinh thiết để xác định chẩn đoán đối với các trường hợp nghi ngờ.

     

    Tổn thương nội biểu mô vảy độ cao – HSIL

    Sinh thiết các loại mụn cóc không điển hình có thể phát hiện HSIL hoặc ung thư ở bộ phận sinh dục. Trong trường hợp này, cần đến bác sĩ chuyên khoa để điều trị.

    Ung thư và Tiền căn liên quan đến Virus Papillomavirus

    Nhiễm HPV lâu ngày có nguy cơ cao (gây ung thư) là nguyên nhân của tất cả các bệnh ung thư cổ tử cung và trong một số bệnh ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật, hậu môn và hầu họng. Tuy nhiên, ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư liên quan đến HPV duy nhất được khuyến cáo nên khám định kỳ.

    Ung thư cổ tử cung

    Sàng lọc

    Các khuyến nghị về tầm soát ung thư cổ tử cung ở Hoa Kỳ được các tổ chức y tế đánh giá dựa trên những dẫn chứng đầy thuyết phục, bao gồm USPSTF (174), ACS (177) và ACOG. Theo thời gian, sự liên kết chung giữa các tổ chức này đã xuất hiện về thời điểm bắt đầu và kết thúc tầm soát ung thư cổ tử cung cũng như tính định kỳ của việc tầm soát. Mặc dù không có bất kỳ hướng dẫn nào chỉ ra việc thực hiện sàng lọc ở Hoa Kỳ, Đạo luật Bảo vệ Bệnh nhân và Chăm sóc Giá cả phải chăng yêu cầu Medicaid và các kế hoạch bảo hiểm y tế tư nhân mới cung cấp bảo hiểm cho các dịch vụ phòng ngừa được USPSTF xếp loại A hoặc B, bao gồm tầm soát ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, Trung tâm Quốc gia về Đảm bảo Chất lượng cung cấp một bộ các biện pháp (Bộ Thông tin và Dữ liệu Hiệu quả Chăm sóc Sức khỏe [HEDIS]) để tầm soát ung thư cổ tử cung cập nhật phù hợp với các khuyến nghị của USPSTF (https://www.ncqa.org / hedis / các biện pháp / tầm soát ung thư cổ tử cung). Trung tâm Dịch vụ Medicaid và Medicare sử dụng biện pháp tương tự như HEDIS để đo lường hiệu quả tầm soát ung thư cổ tử cung.

     

    Các khuyến nghị sàng lọc của USPSTF áp dụng cho những người có cổ tử cung có nguy cơ trung bình, được định nghĩa là những người không bị ung thư cổ tử cung trước đó hoặc tiền ung thư cấp độ cao, hiện không được theo dõi chặt chẽ vì có kết quả bất thường gần thời điểm khám sàng lọc, không bị suy giảm miễn dịch (ví dụ, người nhiễm HIV), và người không tiếp xúc với diethylstilbestrol trong tử cung. Trong số này, nên thực hiện sàng lọc bắt đầu từ 21 tuổi đến 65 tuổi. Xét nghiệm có thể được thực hiện bằng cách sử dụng các xét nghiệm tế bào học thông thường hoặc dựa trên chất lỏng (tức là xét nghiệm Pap). Đối với những

    người từ 30 tuổi trở lên, việc sàng lọc có thể bao gồm các xét nghiệm đã được FDA chứng nhận về các loại HPV gây ung thư, nguy cơ cao. Đối với xét nghiệm tế bào học, các phòng khám nên sử dụng các phòng thí nghiệm được CLIA cấp phép (Bethesda 2001 hoặc LAST).

    Những người có nguy cơ trung bình không nên tầm soát ung thư cổ tử cung hàng năm. Thay vào đó, xét nghiệm tế bào được khuyến nghị 3 năm một lần cho những người từ 21–29 tuổi. Đối với những người từ 30–65 tuổi, nên xét nghiệm tế bào 3 năm một lần, xét nghiệm HPV 5 năm một lần hoặc xét nghiệm tế bào cùng với xét nghiệm HPV 5 năm một lần. Xét nghiệm có thể được thực hiện bằng cách thu thập một mẫu cho xét nghiệm tế bào và một mẫu khác cho xét nghiệm HPV hoặc bằng cách sử dụng tế bào lỏng còn lại cho xét nghiệm HPV. Các chương trình sàng lọc cổ tử cung nên sàng lọc những người đã được tiêm vaccine ngừa HPV theo cách tương tự như những người chưa được tiêm. Những người có nguy cơ trung bình không nhất thiết sàng lọc trước 21 tuổi. Đối với những người từ 30–65 tuổi, USPSTF ưu tiên xét nghiệm tế bào đơn thuần hoặc xét nghiệm HPV; tuy nhiên, có thể được sử dụng như một cách tiếp cận thay thế. ACOG, ACS và USPSTF mỗi loại có các khuyến nghị sàng lọ.

    Các phòng khám nên cân nhắc lợi ích của từng chiến lược sàng lọc cũng như các nguồn lực của mình, chẳng hạn như thời gian và chi phí, để quyết định xem nên thực hiện chiến lược sàng lọc nào trong số ba chiến lược sàng lọc có thể có. Các mô hình phân tích quyết định ước tính lợi ích, tác hại và chi phí của một số chiến lược khác nhau có thể hữu ích trong việc đưa ra quyết định này (174, 1244, 1245). Việc áp dụng các quy trình theo dõi và sàng lọc được khuyến nghị, bao gồm các phương pháp sàng lọc, kết quả và theo dõi, giúp thực hiện tầm soát ung thư cổ tử cung tại các phòng khám (1246). Các phòng khám nên cấp một bản sao kết quả xét nghiệm cho bệnh nhân; những người có kết quả bình thường cần được cung cấp thông tin về các lần tái khám và tầm quan trọng của việc tiếp tục tầm soát ung thư, nếu có. Những người có xét nghiệm sàng lọc bất thường phải được quản lý theo hướng dẫn đã công bố. Các hướng dẫn thống nhất toàn quốc hiện hành quản lý các xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung bất thường (1247). Xét nghiệm hoặc kiểm tra virus HPV được ưu tiên hơn là xét nghiệm tế bào đơn thuần để theo dõi sau khi có kết quả xét nghiệm sàng lọc bất thường. Các hướng dẫn này dựa trên những khuyến nghị của ban quản lý về việc đánh giá rủi ro theo từng trường hợp khi xem xét lịch sử sàng lọc những lần trước đó và kết quả hiện tại (xem Phần tiếp theo). Bệnh nhân có kết quả xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung bất thường cần tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa (xem Thông báo tư vấn).

    Việc theo dõi sau đây có liên quan đến việc thực hiện xét nghiệm Pap và xét nghiệm HPV:

     

    • Không nhất thiết phải xét nghiệm tế bào học (xét nghiệm Pap) và xét nghiệm HPV.
    • Tất cả những người có cổ tử cung phải được khám sàng lọc ung thư cổ tử cung, bất kể khuynh hướng tình dục hoặc giới tính (tức là những người xác định là đồng tính nữ, song tính, dị tính hoặc chuyển giới).

    • Thời gian lý tưởng để thực hiện xét nghiệm tế bào thông thường (trong đó mẫu được phết lên phiến kính khô) trong khoảng 10–20 ngày sau ngày đầu tiên của kỳ kinh. Tế bào từ chất lỏng có thể được thực hiện bất cứ lúc nào trong chu kỳ kinh nguyệt.
    • Tại buổi khám sàng lọc, nếu phát hiện các bệnh nhiễm trùng cụ thể không phải là HPV (ví dụ, chlamydia hoặc bệnh lậu), xét nghiệm tế bào một lần nữa sau khi điều trị những bệnh nhiễm trùng có thể được chỉ định. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp (ngay cả khi có một số bệnh nhiễm trùng cổ tử cung nặng), sau khi có kết quả xét nghiệm tế bào và khi có kết luận cuối cùng không phải xét nghiệm tế bào sau khi điều trị.

     

    • Không được hoãn xét nghiệm tế bào. Xét nghiệm có thể được thực hiện sau khi loại bỏ dịch tiết bằng tăm bông có tẩm nước muối sinh lý.
    • Xét nghiệm HPV có thể được thực hiện như một xét nghiệm riêng biệt hoặc bằng cách sử dụng vật liệu từ mẫu tế bào dạng lỏng.
    • Trong trường hợp không có chỉ định khác, sự xuất hiện của mụn cóc sinh dục bên ngoài không nhất thiết tầm soát ung thư cổ tử cung thường xuyên.

     

    • Trình tự của xét nghiệm tế bào học liên quan đến việc thu thập các mẫu bệnh phẩm nội mạc cổ tử cung khác không ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm Pap hoặc cách lý giải (600). Thông thường sẽ ưu tiên các mẫu xét nghiệm âm đạo để sàng lọc chlamydia và bệnh lậu; tuy nhiên, trong khi khám phụ khoa, có thể lấy mẫu nội mạc cổ tử cung để xét nghiệm STI trước

    .

    • Những người đã cắt tử cung hoàn toàn không cần sàng lọc trừ khi ung thư nội biểu mô cổ tử cung (CIN) 2, CIN 3, hoặc ung thư biểu mô tuyến tại chỗ được chẩn đoán trong vòng 20 năm trước đó (175, 1247). Nếu cổ tử cung vẫn còn nguyên vẹn sau khi cắt tử cung trên cổ tử cung, nên thực hiện xét nghiệm tế bào Pap thường xuyên theo lịch trình theo chỉ định (1248–1250).

     

    • Các cơ sở chăm sóc sức khỏe đào tạo nhân viên thu thập xét nghiệm tế bào và sử dụng các biện pháp đảm bảo chất lượng đơn giản có nhiều khả năng thu được kết quả xét nghiệm đạt yêu cầu (do phòng thí nghiệm xác định).
    • Việc sử dụng các dụng cụ được thiết kế để lấy mẫu vùng biến đổi cổ tử cung (ví dụ: tế bào sinh học) cải thiện độ chính xác của các xét nghiệm tế bào (1251)

     

    • Cả tế bào từ chất lỏng (dịch tế bào) và tế bào học thông thường đều được chấp nhận vì chúng có các đặc điểm hiệu suất xét nghiệm tương tự nhau.
    • Ở lần khám đầu tiên, bác sĩ nên hỏi bệnh nhân về kết quả xét nghiệm tế bào và HPV gần đây của họ cũng như tiền sử đánh giá và điều trị (ví dụ: thủ thuật cắt đốt điện vòng và soi cổ tử cung) để hỗ trợ xử trí; cần có các bản sao của các kết quả gần đây. Tầm quan trọng và tần suất sàng lọc cần được củng cố.

    Tư vấn

    Mọi người có thể tin rằng xét nghiệm tế bào (xét nghiệm Pap) hoặc xét nghiệm HPV để tìm các bệnh khác ngoài ung thư cổ tử cung, hoặc họ có thể bị nhầm lẫn bởi các kết quả bất thường (1252–1254). Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, với tư cách là nguồn thông tin đáng tin cậy về nhiễm trùng HPV và kết quả xét nghiệm tế bào bất thường, có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về HPV cho mọi người và có thể kiểm soát tác động tâm lý xã hội của kết quả bất thường (1255, 1256). Đồng thời, cần tư vấn về những rủi ro, sự không chắc chắn và lợi ích của việc sàng lọc cho người đến thăm khám (174, 1257).

    Xét nghiệm tế bào bất thường hoặc xét nghiệm HPV dương tính có thể gây ra lo lắng, căng thẳng, sợ hãi và nhầm lẫn, có thể làm giảm khả năng tiếp thu và lưu giữ thông tin của bệnh nhân và đóng vai trò như một trở ngại cho việc chăm sóc theo dõi (1258–1261). Xét nghiệm HPV dương tính có thể làm lo lắng về bạn tình, lo lắng về việc chia sẻ, và cảm giác tội lỗi, tức giận và kỳ thị (1260). Các cơ sở chăm sóc sức khỏe nên tư vấn để thấy điểm tích cực trong quá trình điều trị HPV một cách trung lập, không kỳ thị và nhấn mạnh tính chất phổ biến, không triệu chứng và nhất thời của bệnh. Các nhà cung cấp dịch vụ cũng nên nhấn mạnh rằng việc lây nhiễm HPV thường lây truyền giữa bạn tình nhưng thường không thể biết được nguồn gốc của việc nhiễm HPV; Các xét nghiệm HPV có kết quả dương tính trong nhiều năm sau khi tiếp xúc ban đầu do sự kích hoạt lại các bệnh nhiễm trùng tiềm ẩn ở cả bạn tình nam và nữ. Bị nhiễm HPV không cần lo lắng về sức khỏe của bạn tình nam (1262). Các cơ sở y tế cần thông báo và giải thích kết quả xét nghiệm tế bào và HPV cho bệnh nhân khi khám sàng lọc.

    Các cơ sở khám chữa bệnh cũng nên sàng lọc việc sử dụng thuốc lá và thực hiện tư vấn cai nghiện thuốc lá (www.acog.org/clinical/ clinical-guidance/committee-opinion/articles/2011/09/

     

    Thúc đẩy tầm soát ung thư cổ tử cung

    Các phòng khám có thể sử dụng các biện pháp can thiệp có căn cứ của Lực lượng Đặc nhiệm Dịch vụ Phòng ngừa Cộng đồng để thúc đẩy việc tầm soát ung thư cổ tử cung trong cộng đồng (https://www.thecommunityguide.org/findings/cancer- screening-multicomponent-interventions-cervical-cancer). Kết hợp thực hiện các biện pháp can thiệp làm tăng nhu cầu sàng lọc của cộng đồng (1266) (ví dụ như nhắc nhở khách hàng, khuyến khích khách hàng, thông qua phương tiện truyền thông hoặc giáo dục 1-1) cùng với biện pháp tăng cường khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với việc sàng lọc (ví dụ như giảm các rào cản cơ cấu và giảm chi phí tự thanh toán cho khách hàng) mang lại hiệu quả trong việc tăng tỷ lệ bao phủ tầm soát ung thư cổ tử cung. Các biện pháp can thiệp này sẽ hiệu quả hơn nếu được thực hiện cùng với các biện pháp can thiệp để tăng cường cung cấp dịch vụ sàng lọc cho nhà cung cấp dịch vụ sàng lọc (ví dụ như đánh giá và phản hồi của nhà cung cấp, khích lệ và nhắc nhở của của nhà cung cấp). Các tài liệu in và nguồn trực tuyến có sẵn tại https://www.cdc.gov/ cancer/cervical/basic_info/screening.htm and https://www. cdc.gov/std/hpv/facts-brochures.htm. Ý hướng của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến cả việc cải thiện sàng lọc và theo dõi sau khi có kết quả bất thường (1267).

    Thông điệp chính về tầm soát ung thư cổ tử cung

    Khi tư vấn cho mọi người về tầm soát ung thư cổ tử cung, nhà cung cấp nên thảo luận những điều sau

    :

    • Có thể ngăn ngừa ung thư cổ tử cung bằng các xét nghiệm sàng lọc thông thường, như xét nghiệm Pap (tế bào học) và xét nghiệm HPV. Những người có nguy cơ ở mức trung bình nên bắt đầu xét nghiệm tế bào học khi 21 tuổi.
    • Xét nghiệm tế bào học có thể tìm thấy các tế bào cổ tử cung bất thường có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung theo thời gian, và xét nghiệm HPV có thể phát hiện nhiễm trùng HPV ở cổ tử cung. Xét nghiệm HPV có thể chỉ tiến hành một mình để tầm soát ung thư cổ tử cung hoặc tiến hành đồng thời với xét nghiệm tế bào học (gọi là cotest) cho những người từ 30 đến 65 tuổi. Xét nghiệm HPV cũng được sử dụng sau khi có kết quả xét nghiệm của các tế bào vảy không điển hình có ý nghĩa không xác định (ASC-US) ở những người trên 25 tuổi (được gọi là xét nghiệm HPV phản xạ).
    • Các xét nghiệm tế bào học và HPV cho kết quả dương tính là dấu hiệu của các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung, thường không gây ra triệu chứng cho đến khi chúng lây lan rộng. Cần thiết theo dõi thích hợp để đảm bảo ung thư cổ tử cung không phát triển.
    • HPV là một bệnh nhiễm trùng phổ biến và thường được cơ thể kiểm soát tốt mà không cần đến bất kỳ can thiệp y tế nào. Xét nghiệm HPV dương tính không đồng nghĩa với việc bệnh nhân bị ung thư.

     

    • Các nhà cung cấp dịch vụ cần nhấn mạnh rằng HPV thường được lây nhiễm giữa các bạn tình, và thường không thể xác định được nguồn gốc lây nhiễm HPV, các xét nghiệm HPV có thể cho ra kết quả dương tính sau nhiều năm kể từ lần tiếp xúc đầu tiên do sự tái kích hoạt của các bệnh nhiễm trùng tiềm ẩn ở cả bạn tình nam và nữ.

     

    Quản lý bạn tình

    Chưa rõ lợi ích của việc tiết lộ xét nghiệm HPV dương tính cho bạn tình hiện tại và sau này, nhưng có thể bàn bạc với bạn tình các thông điệp sau:

     

    • Bạn tình không cần xét nghiệm HPV.
    • Bạn tình có xu hướng lây lan virus HPV cho nhau. Bạn tình của những người nhiễm HPV cũng có khả năng bị nhiễm HPV.
    • Phụ nữ có bạn tình nam từng quan hệ với người bị nhiễm HPV nên được kiểm tra sàng lọc cùng khoảng thời gian với những phụ nữ có nguy cơ trung bình. Không có dữ liệu nào chứng minh lợi ích của việc khám sàng lọc thường xuyên hơn.
    • Khi được sử dụng đúng cách và nhất quán, bao cao su có thể làm giảm nguy cơ nhiễm HPV và có thể rút ngắn thời gian khỏi bệnh ở những người bị nhiễm HPV. Tuy nhiên, HPV có thể lây nhiễm ra những vùng không được bao cao su che phủ và bao cao su có thể không bảo vệ hoàn toàn khỏi HPV (24,25).

    Bổ sung cho bạn tình cả những truyền đạt dành cho người nhiễm HPV (xem Tầm soát ung thư cổ tử cung; Thông điệp tư vấn).

    Đề xuất sàng lọc ở các nhóm dân số đặc biệt

     

    Khi mang thai

    Những người đang mang thai nên được sàng lọc cùng thời điểm với những người không mang thai. Có thể dùng tăm bông, dụng cụ đè lưỡi Ayre hoặc bàn chải tế bào để lấy mẫu xét nghiệm tế bào học trong thời kỳ mang thai (1268-1270).

     

    Nhiễm HIV

    Một số nghiên cứu đã ghi nhận sự gia tăng nguy cơ ung thư và tiền ung thư cổ tử cung ở những người nhiễm HIV (1271-1273). Thanh thiếu niên nhiễm HIV nên được tầm soát 1 năm kể từ khi bắt đầu quan hệ tình dục, nhưng không để quá 21 tuổi. Những người quan hệ tình dục nên được sàng lọc tại thời điểm chẩn đoán HIV ban đầu. Xét nghiệm tế bào học thông thường hoặc dạng lỏng (xét nghiệm Pap) nên được thực hiện tách biệt với xét nghiệm HPV chính và không được khuyến cáo ở những người nhiễm HIV. Xét nghiệm kiểm tra (xét nghiệm tế bào học và xét nghiệm HPV) có thể được thực hiện ở những bệnh nhân HIV trên 30 tuổi. Nên khám sàng lọc hàng năm cho những người nhiễm HIV; sau 3 năm liên tiếp có kết quả xét nghiệm cotest bình thường (xét nghiệm tế bào học bình thường và xét nghiệm âm tính với HPV) thì có thể tăng khoảng thời gian tầm soát lên 3 năm 1 lần. những người nhiễm HIV được khuyến cáo sàng lọc suốt đời.

    Các nhà cung cấp dịch vụ nên tuân theo những Hướng dẫn hiện hành về phòng ngừa và điều trị cá nhiễm trùng cơ hội ở người lớn và thanh thiếu niên nhiễm HIV để được hướng dẫn về sàng lọc ung thư cổ tử cung và quản lý kết quả ở những người nhiễm HIV (98).

     

    Các cơ sở dịch vụ y tế nên tuân theo các Hướng dẫn hiện hành về Phòng ngừa và Điều trị các Nhiễm trùng Cơ hội ở người lớn và thanh thiếu niên nhiễm HIV để được hướng dẫn về sàng lọc ung thư cổ tử cung và quản lý kết quả ở những người nhiễm HIV (98).

    Thanh thiếu niên

    Tỷ lệ nhiễm HPV cao ở những người trong độ tuổi dưới 21 tuổi (174); tuy nhiên, nhiễm trùng HPV và tổn thương vảy trong biểu mô do HPV ở thanh thiếu niên có nhiều khả năng đi ngược so với những người lớn tuổi. Vì những lý do này, việc tầm soát ung thư cổ tử cung và xét nghiệm HPV ở thanh thiếu niên đủ điều kiện miễn dịch ít hơn. Tuy nhiên, đối với thanh thiếu niên bị nhiễm HIV, các cơ sở y tế nên sàng lọc 1 năm sau khi bắt đầu hoạt động tình dục, bất kể tuổi tác hoặc phương thức lây nhiễm HIV (ví dụ, mắc phải sau sinh hay mắc bệnh qua đường tình dục) (98); việc sàng lọc như vậy được đảm bảo vì tỷ lệ tiến triển tế bào bất thường cao được công bố ở thanh thiếu niên nhiễm HIV.

    Xét nghiệm Papillomavirus ở Người để Tầm soát Ung thư Cổ tử cung

    Các xét nghiệm lâm sàng đối với HPV được sử dụng cho các mục đích sau: tầm soát ung thư cổ tử cung như xét nghiệm chính, tầm soát ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào, phân loại một số kết quả tế bào cổ tử cung bất thường, theo dõi sau khi có kết quả xét nghiệm tầm soát bất thường, theo dõi sau soi cổ tử cung khi không tìm thấy CIN 2 hoặc CIN 3, và theo dõi sau khi điều trị tiền ung thư cổ tử cung. Các xét nghiệm này chỉ được FDA cho phép sử dụng với các mẫu xét nghiệm cổ tử cung, không phải mẫu xét nghiệm miệng hoặc hậu môn. Không khuyến khích xét nghiệm các loại HPV không gây bệnh (ví dụ: loại 6 và 11) (https://www.asccp.org/guidelines). FDA đã phê duyệt các xét nghiệm HPV nhằm phát hiện virus DNA hoặc RNA thông tin. Một số xét nghiệm HPV đã được FDA chứng nhận và được sử dụng ở Hoa Kỳ. Xét nghiệm Cobas 4800 HPV (Roche Molecular Diagnostics) và xét nghiệm Onclarity HPV (Becton Dickinson) có thể phát hiện sự hiện diện của 14 loại HPV gây ung thư (loại 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66 và 68), cũng như các loại 16 và 18 riêng lẻ, và được chứng minh để sàng lọc ung thư cổ tử cung ban đầu.

    Các xét nghiệm HPV được cấp phép sử dụng cùng với xét nghiệm tế bào hoặc để phân loại một số kết quả tế bào cổ tử cung bất thường; chúng không được sử dụng để xét nghiệm HPV chính vì chúng không được cấp phép cho mục đích này. Các xét nghiệm này bao gồm xét nghiệm DNA HPV nguy cơ cao Hybrid Capture 2 (Qiagen), xét nghiệm DNA nguy cơ cao Cervista HPV và HPV 16/18 DNA (Hologics) và xét nghiệm APTIMA HR HPV (Gen Probe). Tất cả các xét nghiệm HPV phải được FDA chứng nhận và chỉ được sử dụng cho các chỉ định thích hợp (https://www.fda.gov/ media/122799 / download) (158).

     

    Không nên thực hiện xét nghiệm HPV trong những trường hợp sau:

    • Quyết định có nên tiêm chủng HPV hay không

     

    • Tiến hành các xét nghiệm HPV để tìm các loại HPV nguy cơ thấp (không gây dị ứng) (ví dụ: loại 6 và 11)
    • Cung cấp dịch vụ chăm sóc cho những người bị mụn cóc sinh dục hoặc bạn tình của họ
    • Kiểm tra những người dưới 25 tuổi như một phần của quá trình tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ
    • Xét nghiệm mẫu bệnh phẩm qua đường miệng hoặc hậu môn

    Không giống như tế bào học, các mẫu xét nghiệm HPV có thể do bệnh nhân thu thập và gửi đến các chương trình y tế để phân tích, do đó, việc tự thu thập có thể là một trong những chiến lược để tăng tỷ lệ sàng lọc trong các quần thể có tỷ lệ sàng lọc thấp. Việc tự lấy mẫu để xét nghiệm HPV không được FDA cho phép hoặc các tổ chức y tế Hoa Kỳ khuyến nghị (174).

     

    Theo dõi các kết quả xét nghiệm tế bào học bất thường và virus gây u nhú ở người

    Nếu kết quả xét nghiệm tế bào (xét nghiệm Pap) bất thường, cần được chăm sóc theo dõi theo Hướng dẫn đồng thuận về quản lý dựa trên rủi ro ASCCP 2019 đối với các xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung bất thường và tiền căn ung thư (158). Các phòng khám phục vụ những khách hàng có thể gặp khó khăn trong việc tuân thủ các khuyến nghị theo dõi và không có mối liên hệ với dịch vụ chăm sóc nên xem xét cung cấp dịch vụ soi cổ tử cung và sinh thiết tại nhà.

    Các hướng dẫn thống nhất về quản lý các xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung bất thường kết hợp dữ liệu nguy cơ ở mức độ bệnh nhân với các ngưỡng ra quyết định lâm sàng để đưa ra các khuyến nghị quản lý được cá nhân hóa (Bảng 2). Khung này cho phép quản lý trên cơ sở rủi ro đối với CIN 3, không phải kết quả kiểm tra cụ thể. Các hướng dẫn được thiết kế để xác định những người có nguy cơ cao cần soi cổ tử cung hoặc điều trị nhanh và những người có nguy cơ thấp có thể lùi việc chẩn đoán xâm lấn một cách an toàn. Khung dựa trên rủi ro được thiết kế để dễ dàng kết hợp các sửa đổi trong tương lai, chẳng hạn như các công nghệ mới để sàng lọc và quản lý. Việc sử dụng các nguyên tắc có thể được hỗ trợ bởi công nghệ điện tử được cập nhật liên tục, chẳng hạn như ứng dụng điện thoại thông minh hoặc trang web (https://www.asccp.org/Default.aspx).

    Sau đây là những điểm nổi bật của các nguyên tắc quản lý mới:

    • Những bệnh nhân có nguy cơ thấp thì việc soi cổ tử cung chưa cần thực hiện ngay.

    ű Nếu bệnh nhân có kết quả xét nghiệm bất thường ở mức tối thiểu (tức là âm tính với tổn thương trong biểu mô hoặc bệnh ác tính HPV dương tính, ASC-US HPV dương tính, LSIL hoặc HPV dương tính) trước đó bằng xét nghiệm HPV sàng lọc âm tính hoặc xét nghiệm trong vòng 5 năm qua, nên theo dõi sau 1 năm thay vì soi cổ tử cung (xét nghiệm HPV âm tính hoặc kiểm tra được thực hiện trong quá trình theo dõi các kết quả bất thường cũng không làm giảm nguy cơ tương tự).

    ű

    Nên chuyển tuyến và thực hiện soi cổ tử cung nếu kết quả xét nghiệm tế bào bất thường hoặc xét nghiệm HPV dương tính khi tái khám sau 1 năm.

    • Có thể nhanh chóng điều trị cho những bệnh nhân có nguy cơ cao.

     

    (Table  2. (attached file) – trang 111

    ű Nếu bệnh nhân có kết quả tế bào học mức cao (xét nghiệm Pap) (tức là HSIL) và xét nghiệm HPV dương tính với HPV16, thì điều trị bằng thủ thuật cắt đốt điện vòng (LEEP) được ưu tiên hơn. Không cần thiết phải soi cổ tử cung với sinh thiết để xác định chẩn đoán trước.

    ű Nếu một bệnh nhân không được sàng lọc trong hơn 5 năm (tức là hiếm khi được sàng lọc) có kết quả tế bào học HSIL và xét nghiệm HPV dương tính (bất kể loại nào), thì điều trị bằng LEEP được ưu tiên hơn. Không cần thiết phải soi cổ tử cung với sinh thiết để xác định chẩn đoán trước.

    ű Khi xem xét điều trị mà không cần sinh thiết, việc chia sẻ quyết định với bệnh nhân là rất quan trọng. Việc xem xét các yếu tố bao gồm tuổi tác, mối quan tâm về ung thư, khả năng theo dõi, lo ngại về tác động tiềm tàng của việc điều trị đối với việc mang thai trong tương lai

    • Khi xét nghiệm HPV chính được sử dụng để sàng lọc, xét nghiệm tế bào học nên được thực hiện đối với tất cả các kết quả xét nghiệm HPV dương tính để giúp xác định các bước tiếp theo trong quản lý. Tốt nhất, xét nghiệm tế bào học nên được thực hiện tại phòng xét nghiệm như một xét nghiệm phản xạ từ cùng một bệnh phẩm nên bệnh nhân không cần khám lại. Soi cổ tử cung

    được khuyến cáo nếu kiểu gen HPV dương tính với týp 16 hoặc 18, và có thể xem xét nếu bệnh nhân không thể quay lại xét nghiệm tế bào học một mình (1274).

    ű HPV 16 là loại HPV có nguy cơ cao nhất, cần xem xét điều trị nhanh chóng để có kết quả tế bào học HSIL, và nên soi cổ tử cung trong tất cả các trường hợp khác, ngay cả khi xét nghiệm tế bào học bình thường.

     

    HPV 18 có mối liên quan tương đối cao với ung thư, và nên soi cổ tử cung trong mọi trường hợp, ngay cả khi xét nghiệm tế bào học bình thường. Do sự liên quan của HPV 18 với ung thư biểu mô tuyến nên việc lấy mẫu nội mạc tử cung được chấp nhận tại thời điểm soi cổ tử cung.

    Nếu chủng HPV không phải là HPV 16 hoặc 18 và xét nghiệm tế bào bình thường, thì nên quay lại kiểm tra sau 1 năm trong hầu hết các trường hợp.

    • Xét nghiệm hoặc kiểm tra HPV được ưu tiên hơn xét nghiệm tế bào một mình để theo dõi sau khi có kết quả xét nghiệm bất thường.

    Xét nghiệm hoặc xét nghiệm HPV âm tính ít có khả năng bỏ sót bệnh hơn so với xét nghiệm tế bào học thông thường. Do đó, xét nghiệm tế bào học được khuyến cáo thường xuyên hơn xét nghiệm HPV hoặc yêu cầu theo dõi các kết quả bất thường. Cụ thể, xét nghiệm tế bào học được khuyến nghị thực hiện định kỳ hàng năm khi khuyến cáo xét nghiệm hoặc kiểm tra HPV trong khoảng thời gian 3 năm, và xét nghiệm tế bào học được khuyến nghị vào khoảng thời gian 6 tháng khi xét nghiệm hoặc kiểm tra HPV được khuyến nghị hàng năm.

    • Sau khi điều trị tiền ung thư mức độ cao (loạn sản vừa hoặc nặng), nên tiếp tục theo dõi trong ít nhất 25 năm.

    Kiểm tra ban đầu bao gồm xét nghiệm hoặc xét nghiệm phát hiện virus HPV ở 6, 18 và 30 tháng. Nếu chỉ sử dụng phương pháp tế bào học, thì việc kiểm tra phải được thực hiện vào các thời điểm 6, 12, 18, 24 và 30 tháng.

    Sau khi hoàn thành xét nghiệm ban đầu, cần theo dõi trong khoảng thời gian dài bao gồm xét nghiệm cách nhau 3 năm nếu sử dụng xét nghiệm hoặc kiểm tra HPV, hoặc xét nghiệm hàng năm nếu chỉ sử dụng xét nghiệm tế bào học.

    Cần tiếp tục theo dõi trong ít nhất 25 năm sau lần điều trị đầu tiên, cũng có thể việc này kéo dài hơn 65 tuổi. Nếu một phụ nữ đã phẫu thuật cắt tử cung trong thời gian theo dõi, nên tiếp tục kiểm tra âm đạo.

     

    Ung thư hậu môn

    Ung thư hậu môn hiếm gặp trong cộng đồng nói chung (1–2 trường hợp trên 100.000 người/năm); tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh cao hơn đáng kể trong các nhóm dân số cụ thể, bao gồm MSM nhiễm HIV (80–131 trường hợp trên 100.000 người/năm), nam giới nhiễm HIV (40–60 trường hợp trên 100.000 người/năm), phụ nữ nhiễm HIV (20– 30 trường hợp trên 100.000 người/năm), và MSM không nhiễm HIV (14 trường hợp trên 100.000 người/năm) (1275–1279). Tỷ lệ mắc bệnh có thể thay đổi ở những phụ nữ mắc chứng loạn sản phụ khoa và ung thư liên quan đến HPV trước đây (6–63 trường hợp trên 100.000 người-năm) (1280.1281). Nhiễm HPV dai dẳng có nguy cơ của ung thư nguyên phát thứ hai liên quan đến HPV có thể ngăn ngừa được trong số những người sống sót sau các bệnh ung thư liên quan đến HPV (1282).

    Dữ liệu không đầy đủ để khuyến nghị tầm soát ung thư hậu môn định kỳ bằng tế bào học hậu môn ở những người nhiễm HIV, MSM không nhiễm HIV và cộng đồng nói chung. Khám hậu môn trực tràng kỹ thuật số hàng năm (DARE) có thể hữu ích để phát hiện khối cục khi sờ nắn ở những người nhiễm HIV và có thể ở nhóm MSM không nhiễm HIV có tiền sử quan hệ qua đường hậu môn dễ dàng (98). Cần có thêm bằng chứng liên quan đến tiền sử tự nhiên của bệnh u tân sinh trong biểu mô hậu môn, các phương pháp sàng lọc tốt nhất và nhóm đối tượng mục tiêu, sự an toàn và đáp ứng với các phương pháp điều trị, và các cân nhắc đưa ra trước khi sàng lọc có thể được khuyến nghị thường quy.

    Quần thể có nguy cơ cao và khám hậu môn trực tràng kỹ thuật số

     

    Các nhà cung cấp dịch vụ nên thảo luận về nguy cơ ung thư hậu môn với bệnh nhân của họ trong các nhóm dân số cụ thể để hướng dẫn quản lý. Theo hướng dẫn về Nhiễm trùng cơ hội với HIV và Hiệp hội Ung thư Hậu môn Quốc tế, nên thực hiện DARE để phát hiện sớm ung thư hậu môn ở những người nhiễm HIV và MSM không nhiễm HIV có tiền sử quan hệ qua đường hậu môn dễ dàng (98,1283). DARE được bệnh nhân chấp nhận và có ít nguy cơ dẫn đến kết quả bất lợi (1284,1285).

    Dữ liệu không đủ để hướng dẫn bắt đầu DARE ở độ tuổi xác định hoặc khoảng thời gian tối ưu để khám. Trong khi HSIL qua đường hậu môn được quan sát thấy ở những người trẻ tuổi, tỷ lệ mắc ung thư bắt đầu tăng sau những năm đầu 30 và tiếp tục tăng theo tuổi tác.

    Quần thể có nguy cơ cao và tế bào học hậu môn

    Dữ liệu không đủ để khuyến nghị tầm soát ung thư hậu môn định kỳ bằng xét nghiệm tế bào học hậu môn trong các quần thể có nguy cơ bị ung thư hậu môn. Một số trung tâm lâm sàng thực hiện xét nghiệm tế bào học hậu môn để sàng lọc ung thư hậu môn trong những quần thể có nguy cơ cao (ví dụ: những người nhiễm HIV, MSM và những người có quan hệ tình dục qua đường hậu môn dễ dàng), sau đó là nội soi độ phân giải cao (HRA) cho những người có kết quả tế bào học bất thường (ví dụ: ACS-US, LSIL hoặc HSIL). Độ nhạy và độ đặc hiệu của tế bào học hậu môn để phát hiện HSIL bị hạn chế (độ nhạy 55% –89% và độ đặc hiệu (40% – 67%) (1286–1291). Các trung tâm y tế bắt đầu chương trình sàng lọc dựa trên tế bào học chỉ nên làm như vậy nếu có giấy giới thiệu đến Thỏa thuận Bồi hoàn Y tế – HRA và sinh thiết 89% và độ đặc hiệu (40% – 67%) (1286–1291). Các trung tâm y tế bắt đầu chương trình sàng lọc dựa trên tế bào học chỉ nên làm như vậy nếu có sẵn giấy giới thiệu đến HRA và sinh thiết.

    HRA có thể được sử dụng để chẩn đoán phết tế bào cổ tử cung – HSIL, để theo dõi đáp ứng với liệu pháp hoặc để tiến hành theo dõi HSIL để tìm biểu hiện về sự tiến triển. HRA là phương pháp chính được sử dụng để chẩn đoán ung thư biểu mô vảy xâm lấn bề ngoài, một dạng ung thư hậu môn rất sớm không thể sờ thấy trên DARE. Tuy nhiên, dữ liệu không đủ để kết luận liệu việc sử dụng HRA có dẫn đến giảm tỷ lệ mắc ung thư hậu môn hay cải thiện tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư hậu môn hay không. Một thử nghiệm lâm sàng đang được thực hiện xem xét điều trị HSIL có hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ mắc ung thư hậu môn ở những người nhiễm HIV hay không (NCT02135419).

    Xét nghiệm virus Papillomavirus

    Các xét nghiệm HPV (sử dụng các chủng HPV nguy cơ cao) không hữu ích về mặt lâm sàng để tầm soát ung thư hậu môn vì tỷ lệ phổ biến cao và nhiễm HPV qua đường hậu môn trong các nhóm dân số có nguy cơ cao, đặc biệt là nhóm MSM (1278,1289,1290). Không có thuật toán chuẩn nào dựa trên HPV để tầm soát ung thư hậu môn do tỷ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao trong các nhóm có nguy cơ cao.

     

    Điều trị tổn thương nội biểu mô vảy mức độ cao ở hậu môn

    Nhiều phương pháp điều trị tại phòng khám cho HSIL ở hậu môn, bao gồm các phương pháp cắt đốt (ví dụ: laser, đốt điện hoặc đông máu bằng tia hồng ngoại) và các liệu pháp bôi tại chỗ cho bệnh nhân (ví dụ: imiquimod). Tỷ lệ tái phát với cả phương pháp điều trị do nhà cung cấp và bệnh nhân áp dụng đều cao, dao động từ khoảng 50% sau 1 năm đến 77% sau 3 năm (1289,1292,1293). Ngoài ra, bằng chứng cho thấy HSIL có thể tự biến mất mà không cần điều trị (1294,1295). Việc đưa ra quyết định chung về điều trị HSIL qua đường hậu môn được khuyến khích vì dữ liệu hạn chế về lịch sử tự nhiên của HSIL đường hậu môn, bao gồm các yếu tố liên quan đến sự tiến triển hoặc thoái triển của tổn thương.

facebook
55

Bài viết liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia

tra-cuu-thuoc

THÔNG TIN THUỐC

TRA CỨU NGAY