MỚI

Ngày xuất bản: 17/11/2025

TÓM TẮT Mục tiêu: Đánh giá đáp ứng, kết quả sống thêm bước đầu và độc tính điều trị khi áp dụng kĩ thuật xạ trị điều biến liều thể tích cung tròn và nhịn thờ thì hít vào sâu (VMAT-DIBH) trong hóa xạ trị tiền phẫu ung thư thực quản giai đoạn tại chỗ-tại vùngĐối tượng và phương pháp: 35 người bệnh với chẩn đoán ung thư thực quản từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2024 được đưa vào nghiên cứu. Các bệnh nhân này được xạ trị tiền phẫu sử dụng kĩ thuật VMAT-DIBH với liều 41.4-50Gy (trong 23-25 phân liều), kết hợp hoá chất đồng thời. Các dữ liệu lâm sàng và thông số tính liều được thu thập và kiểm định để xác định các yếu tố có giá trị tiên lượng cho đáp ứng, sống thêm và độc tính điều trịKết quả: 33/35 (94.2%) người bệnh hoàn thành phác đồ hoá xạ trị tiền phẫu theo kế hoạch. 30 người bệnh (85.7%) được phẫu thuật cắt thực quản triệt căn và đều đạt diện cắt R0, 46.7% số ca đạt đáp ứng hoàn toàn trên bệnh phẩm sau mổ (pCR). Độc tính cấp liên quan điều trị thường gặp nhất là viêm thực quản (độ ³2: 60%), biến chứng muộn (độ ³2) thường gặp bao gồm hẹp miệng nối (6.7%), viêm phổi xạ trị (2.9%). Với thời gian theo dõi trung bình là 20.4 tháng, sống thêm toàn bộ (OS), sống thêm không bệnh (DFS) và sống thêm không tiến triển tại chỗ-tại vùng (LRPFS) 3 năm lần lượt là: 69.4%, 61.4% và 64.1%. Đạt được đáp ứng bệnh học toàn bộ sau mổ (pCR) là yếu tố tiên lượng tích cực của OS và DFS (p<0.05).Kết luận: Hoá xạ trị tiền phẫu sử dụng kĩ thuật VMAT-DIBH trên người bệnh ung thư thực quản giai đoạn tiến triển tại chỗ-tại vùng cho kết quả đáp ứng tốt, với tỉ lệ độc tính liên quan điều trị được hạn chế ở mức chấp nhận được. Các kết quả về sống thêm sẽ cần số mẫu bệnh nhân lớn và thời gian theo dõi dài hơn để có thể phân tích.

Tin tức

Ngày xuất bản: 30/09/2025

Tác giả: Đoàn Trung Hiệp1, Lê Đức Anh2, Dương Văn Nghĩa2, Bồ Thị Minh Châm3, Phạm Thị Quỳnh31Bác sĩ Trưởng khoa, Khoa xạ trị- Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City. Email: ro.dthiep2009@gmail.com. Cellphone: 0985220082. Địa chỉ: Số 458 Minh Khai – P. Vĩnh Tuy – Q. Hai Bà Trưng – Hà Nội. 2Bác sĩ xạ trị, Khoa xạ trị- Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City. 3Điều dưỡng Khoa xạ trị- Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City.Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị giảm đau bằng xạ trị ở bệnh nhân ung thư di căn xương tại bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City. Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Chúng tôi mô tả hồi cứu trên 22 bệnh nhân ung thư có di căn xương được điều trị bằng phương pháp xạ trị tại bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 1 năm 2024. Kết quả: 22 bệnh nhân phù hợp tiêu chí lựa chọn với tuổi trung bình là 59,5 ± 15,1, tỷ lệ nam/nữ = 1. Đa số là di căn xương từ ung thư phổi và vú chiếm 64%. Số lượng tổn thương di căn chủ yếu là đa ổ, chiếm 81,8%. Mức liều- phân liều điều trị là từ 8Gy/1 phân liều - 30Gy/10 phân liều. Có 2 bệnh nhân sử dụng kỹ thuật SBRT với mức liều- phân liều 24Gy/3 phân liều. Các bệnh nhân được sử dụng thuốc giảm đau chủ yếu bậc 2, chiếm 95,4%, chỉ có 1 bệnh nhân phải sử dụng morphin, chiếm 4,6%. Điểm đau theo thang điểm cường độ đau dạng nhìn (VAS- visual analog scale) và thang điểm khách quan được điều chỉnh dựa trên bộ câu hỏi Wisconsin (Wilconsin BPQ- Brief Pain Questionaire) trước điều trị trung bình lần lượt là 4,6 ± 1,2 và 4,3 ± 1,5. Tại thời điểm 1 tháng sau xạ trị, có sự khác biệt về mức độ đau theo cả hai thang điểm so với trước xạ trị với giá trị p <0,05. Tuy nhiên không có sự khác biệt về mức độ đau ở cả hai thang điểm so giữa thời điểm 3 tháng và 1 tháng sau xạ trị với p> 0,05. Tại thời điểm 1-3 tháng, có 90,1% bệnh nhân có đáp ứng giảm đau. Trong 20/22 bệnh nhân có đáp ứng giảm đau, chủ yếu các bệnh nhân bắt đầu có đáp ứng giảm đau tại thời điểm 7-14 ngày sau xạ trị. Đa số các bệnh nhân duy trì được đáp ứng giảm đau trong 3-6 tháng, chiếm 71,4%. Kết luận: Tỷ lệ đáp ứng giảm đau của xạ trị cao là 90,1%. Thời gian bắt đầu giảm đau thường gặp là sau xạ 7-14 ngày. Thời gian duy trì đáp ứng thường gặp là 3-6 tháng. Từ những kết quả thu được cho thấy xạ trị là phương pháp điều trị giảm đau hiệu quả cao cho ung thư di căn xương.

Tin tức

Ngày xuất bản: 15/04/2023

Khi người bệnh (+) với xét nghiệm gen BRCA sẽ có nguy cơ mắc K vú tăng đáng kể. Đoạn nhũ và dùng liệu pháp ức chế hormone là hai phương pháp phòng ngừa thường được khuyến cáo. Bài viết sẽ trình bày tổng quan về mối liên quan giữa gen BRCA và K vú cũng như so sánh hai phương pháp dự phòng này.

Tin tức

Ngày xuất bản: 28/04/2022

Yen Thi-Hai Pham 1, Ovie Utuama 2, Claire E Thomas 3 4, Jong A Park 5, Carlo La Vecchia 6, Harvey A Risch 7 8, Chi Thi-Du Tran 9, Thanh V Le 10, Paolo Boffetta 11, Leon Raskin 12, Hung N Luu 3 4

Tin tức

Trang
của 2