MỚI

Bản tin Dược lâm sàng: Phản ứng quá mẫn với thuốc cản quang chứa IOD và các biện pháp dự phòng, số 08.2019

Ngày xuất bản: 07/06/2022

Bản tin dược lâm sàng về phản ứng quá mẫn với thuốc cản quang chứa iod và các biện pháp dự phòng áp dụng cho bộ phận Dược lâm sàng

Thuốc cản quang có chứa iod (TCQ-iod) ngày càng được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán hình ảnh. Tuy nhiên, thuốc có thể gây nên phản ứng quá mẫn cấp tính từ mức độ nhẹ cho tới nặng, thậm chí là tử vong. Do đó, việc xác định các yếu tố nguy cơ và sử dụng biện pháp dự phòng phù hợp là rất quan trọng.

Tác giả: Phan Quỳnh Lan, Đỗ Thanh Hải

Ngày phát hành: 27/7/2016

I) Phản ứng quá mẫn với thuốc cản quang chứa iod 

  • Phản ứng quá mẫn TCQ-iod xảy ra với tỉ lệ 0,6%, trong đó 4/1000 người bệnh gặp phản ứng ở mức độ nặng và 1/170000 người bệnh tử vong [2], [4]. Tại Việt Nam, số lượng báo cáo ADR liên quan tới TCQ iod ngày càng tăng, từ 195 báo cáo (2006-2011) lên 902 báo cáo (2012-2017), trong đó tần suất của phản ứng phản vệ/sốc phản vệ đã tăng từ 9,57% lên 24,83% [1]. 
  • Hầu hết các phản ứng xảy ra trong vòng 20 phút sau khi tiêm TCQ-iod với các biểu hiện được phân theo mức độ dưới đây: 
    • Mức độ nhẹ và trung bình: Nổi mẩn ngứa, ban đỏ trên da, sưng phù môi, mặt, khò khè, khó thở nhẹ, đau bụng, buồn nôn, nôn… 
    • Mức độ nặng: Phù thanh môn, phù lưỡi, khó thở nặng, tụt huyết áp, sốc phản vệ, tử vong. 
  1. Cơ chế gây phản ứng quá mẫn của thuốc: 
  • Phản ứng giả dị ứng (Allergic-like): TCQ-iod tác động trực tiếp lên bạch cầu ưa base và tế bào mast, làm giải phóng histamin và các chất trung gian hóa học khác, gây nên các phản ứng tương tự dị ứng thuốc. Phản ứng có thể xảy ra ngay ở lần đầu tiên người bệnh dùng thuốc. 
  • Phản ứng dị ứng thực sự thông qua trung gian IgE. Trong lần đầu sử dụng, TCQ-iod đóng vai trò là kháng nguyên, kích thích hệ miễn dịch sinh các kháng thể IgE gắn trên bề mặt các tế bào mast. Các lần sử dụng tiếp theo, phản ứng kháng nguyên – kháng thể xảy ra làm vỡ các tế bào mast và giải phóng histamin. 

2. Các yếu tố nguy cơ làm nặng thêm phản ứng bao gồm:  

  • Loại thuốc cản quang: Nhìn chung, các TCQ-iod có nồng độ iod càng cao, áp suất thẩm thấu càng lớn có tỉ lệ giải phóng histamin càng nhiều, do đó nguy cơ phản ứng quá mẫn càng lớn. Các TCQ-iod nhóm áp suất thẩm thấu cao (HOCM) có nguy cơ gây ra phản ứng quá mẫn cao hơn 10 lần so với các thuốc có áp suất thẩm thấu thấp (LOCM). Mặt khác, nhóm TCQ-iod không ion hóa gặp ít phản ứng bất lợi hơn nhóm ion hóa [2]. Như vậy, nhóm TCQ-iod LOCM, không ion hóa là nhóm thuốc an toàn nhất. 
  • Tiền sử dị ứng: Người bệnh đã có tiền sử dị ứng với thuốc bất kỳ sẽ làm tăng 2-3 lần nguy cơ phản ứng với TCQ-iod, đặc biệt với các trường hợp có tiền sử quá mẫn với TCQ-iod hoặc tiền sử hen phế quản làm tăng 5 lần nguy cơ phản ứng [2], [3]. Ngược lại, tiền sử dị ứng với hải sản, động vật có vỏ, dị ứng các thuốc sát khuẩn chứa povidone-iodine không làm tăng nguy cơ xuất hiện phản ứng khi sử TCQ-iod [4]. 

II) Các biện pháp dự phòng 

  1. Lựa chọn thuốc cản quang an toàn 
  • Các TCQ-iod đang được sử dụng tại Vinmec đều thuộc nhóm LOCM, không ion hóa. Khi so sánh giữa các thuốc LOCM với nhau, không có sự khác biệt về tỉ lệ xuất hiện các phản ứng cấp tính [3], [4].  

Tên biệt dược

Tên hoạt chất

Nồng độ iod (mg/ml)

Áp suất thẩm thấu (mOsm/kg)

Ultravist 300

Iopromide

300

607

Ultravist 370

Iopromide

370

774

Xenetix 300

Iobitridol

300

695

Omnipaque 300

Iohexol

300

672

Visipaque 320

Iodixanol

320

290

  • Với những người bệnh có yếu tố nguy cơ, bác sĩ miễn dịch – dị ứng có thể hỗ trợ làm test da, lựa chọn loại TCQ-iod an toàn nhất. 
  1. Phác đồ dự phòng bằng thuốc 
  • Các thuốc kháng histamin và corticosteroid đã được chứng minh làm giảm nguy cơ xảy ra phản ứng quá mẫn cấp tính mức độ nhẹ, tuy nhiên hiệu quả chưa thực sự rõ ràng với các phản ứng mức độ trung bình đến nặng [2]. Một nghiên cứu đã ước tính cần dự phòng trên 569 người bệnh để tránh được 1 phản ứng ở mức độ nặng [5].  
  • Dựa trên các khuyến cáo của Hội Điện quang Hoa Kỳ (American College of Radiology), bệnh viện đã xây dựng lưu đồ xử trí khi có người bệnh dùng TCQ-iod nhằm tối ưu hóa hiệu quả, giảm chi phí điều trị và tránh lạm dụng thuốc. Bác sĩ điều trị sẽ là người quyết định các vấn đề liên quan đến phác đồ dự phòng của người bệnh. 

  • Phác đồ dự phòng đầy đủ: Methylprednisolon 40mg tiêm tĩnh mạch (TM) hoặc methylprednisolon 32mg uống hoặc prednisolon 50mg uống tại mỗi thời điểm 13h, 7h và 1h trước khi tiêm TCQ-iod VÀ diphenhydramin 50mg tiêm TM 1h trước khi tiêm TCQ-iod. 
  • Phác đồ dự phòng cấp cứu: Methylprednisolon 40mg TM và diphenhydramin 50mg TM sớm nhất có thể trước khi tiêm TCQ-iod. 
  • Mặc dù việc dự phòng bằng thuốc trước khi sử dụng TCQ-iod có thể làm giảm nguy cơ xuất hiện phản ứng dị ứng, nhưng vẫn có khoảng 2% người bệnh bị phản ứng cho dù đã được dự phòng [2]. Do vậy, việc chuẩn bị sẵn sàng cả về con người và phương tiện để kịp thời xử trí phản ứng khi xảy ra là điều quan trọng nhất khi sử dụng TCQ-iod. 

Tài liệu tham khảo 

  1. Nguyễn Phương Thúy (2018), “Phản ứng có hại của thuốc cản quang chứa iod”, Bản tin cảnh giác dược Số  2/2018 – Trung tâm DI&ADR Quốc gia, http://magazine.canhgiacduoc.org.vn/Magazine/Details/205
  2. American College of Radiology (ACR) (2018), “ACR Committee on Drugs and Contrast Media: Manual on  contrast media, version 10.3”, truy cập ngày 23/07/2019, https://www.acr.org/-/media/ACR/Files/Clinical Resources/Contrast_Media.pdf
  3. European Society of Urogenital Radiology (ESUR) (2018), “ESUR guidelines on the safe use of iodinated  contrast media (electronic version 10.0)”, truy cập ngày 23/07/2019, http://www.esur-cm.org/
  4. Davenport M. S., Newhouse J. H. (2018), “Patient evaluation prior to oral or iodinated intravenous contrast for  computed tomography”, truy cập ngày 23/07/2019, https://www.uptodate.com/contents/patient-evaluation-prior to-oral-or-iodinated-intravenous-contrast-for-computed-tomography
  5. Mervak B. M., Davenport M. S., Ellis J. H., Cohan R. H. (2015). “Rates of Breakthrough Reactions in  Inpatients at High Risk Receiving Premedication Before Contrast-Enhanced CT”. American Journal of Roentgenology, 205(1), 77–84.Doi:10.2214/ajr.14.13810 

Bản quyền và thương hiệu: Thông tin và hình ảnh trên website thuộc quyền sở hữu của Vinmec. Việc sao chép, sử dụng phải được Vinmec chấp thuận trước bằng văn bản.

Miễn trừ trách nhiệm: Tất cả những tư liệu được cung cấp trên website này đều mang tính tham khảo. Do đó, nội dung và hình ảnh sẽ được thay đổi, cập nhật và cải tiến thường xuyên mà không phải thông báo trước. Vinmec không bảo đảm về độ chính xác cũng như sự hoàn thiện về thông tin. Chúng tôi không chịu trách nhiệm pháp lý cho những thiệt hại xuất hiện trực tiếp hay gián tiếp từ việc sử dụng hoặc hành động dựa theo những thông tin trên hoặc một số thông tin xuất hiện trên website này. Vinmec không chịu trách nhiệm pháp lý về những sai sót, lỗi chính tả… do nhập liệu cùng với những sự cố khách quan khác như: Nhiễm virus, hành vi phá hoại, ác ý… xảy ra trên website này cũng như các website liên kết, nếu có.

Đường link liên kết: Vinmec sẽ không chịu trách nhiệm hay có nghĩa vụ pháp lý dưới bất kỳ hình thức nào về nội dung của những website không thuộc Vinmec được liên kết với website www.vinmec.com, bao gồm các sản phẩm, dịch vụ và những mặt hàng khác được giới thiệu thông qua những website đó

facebook
22

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia

tra-cuu-thuoc

THÔNG TIN THUỐC

TRA CỨU NGAY