MỚI

Bản tin Dược lâm sàng: Tránh trùng lặp phổ kháng sinh kỵ khí, số 1.2016

Ngày xuất bản: 27/05/2022

Phối hợp kháng sinh hợp lý có thể giúp mở rộng phổ điều trị, tăng cường hiệu lực kháng sinh, đem lại kết quả điều trị tối ưu. Ngược lại, phối hợp kháng sinh không cần thiết sẽ làm tăng chi phí, tăng tỷ lệ kháng thuốc và các nguy cơ khác liên quan tới thuốc. Bộ phận Dược lâm sàng xin được gửi tới các bác sĩ thông tin về phối hợp kháng sinh điều trị vi khuẩn kỵ khí.

Metronidazole được sử dụng rất phổ biến để điều trị nhiễm khuẩn do vi khuẩn kỵ khí. Bên cạnh metronidazole, một số kháng sinh khác cũng có tác dụng mạnh trên nhóm vi khuẩn này, bao gồm:

Nhóm ức chế betalactamase

Amoxicillin/clavulanate (Augmentin®)

Ampicillin/sulbactam (Unasyn®)

Piperacillin/tazobactam (Tazocin®)

Nhóm carbapenem

Ertapenem (Invanz®)

Imipenem (Tienam®)

Meropenem (Meronem®)

Nhóm Quinolon

Moxifloxacin (Avelox®)

Nghiên cứu theo dõi xu hướng phát triển của chủng vi khuẩn kỵ khí trên toàn nước Mỹ trong suốt 8 năm (từ 1997 tới 2004) cho kết quả như sau [1]:

Chủng vi khuẩnTỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc
ErtapenemImipenemMeropenemPip/tazAmp/sulMoxifloxacin
Non-B.fragilis spp (N = 2503)0,60%0,20%0,30%0,50%3,50%34,50%
B.fragilis group
(N=5225)
1,00%0,40%0,60%0,50%2,60%34,50%

Kết quả nghiên cứu cho thấy vi khuẩn kỵ khí, kể cả nhóm B.fragilis và nhóm không B.fragilis spp đều rất nhạy cảm với kháng sinh nhóm carbapenem và nhóm ức chế betalactamase: tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc rất thấp, dao động từ 0,2% – 3,5%. Tỷ lệ đề kháng không có xu hướng gia tăng theo thời gian. Moxifloxacin có tỷ lệ kháng thuốc cao hơn, tới trên 30%.
Tất cả các hướng dẫn điều trị của Hiệp hội bệnh nhiễm trùng Hoa Kỳ (Infection disease Society of America) đều không khuyến cáo kết hợp kháng sinh để điều trị vi khuẩn kỵ khí. Thực tế tại Mỹ, trùng lặp phổ kỵ khí là một trong ba can thiệp phổ biến nhất trong chương trình quản lý kháng sinh Stewardship, chiếm tới 20% tổng số can thiệp về kháng sinh [5].
Nghiên cứu trong vòng 4 năm tại 398 bệnh viện tại Mỹ cho thấy, phối hợp metronidazole với các kháng sinh có phổ kỵ khí khác làm tăng chi phí điều trị thêm 9,9 triệu USD [2]. Bên cạnh vấn đề chi phí, phối hợp kháng sinh không cần thiết còn làm tăng nguy cơ gặp tác dụng không mong muốn, tăng nguy cơ tương tác, tương kỵ thuốc, kéo dài thời gian sử dụng thuốc đường tiêm truyền và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn.

Khuyến cáo cho nhân viên y tế:
– Không phối hợp metronidazole với các kháng sinh nhóm carbapenem và kháng betalactamase, trừ trường hợp điều trị nhiễm khuẩn do Clostridium difficle
– Có thể cân nhắc phối hợp moxifloxacin với metronidazole do tỷ lệ vi khuẩn kỵ khí kháng moxifloxacin lên tới trên 30%. Tuy nhiên, các hướng dẫn điều trị bệnh nhiễm trùng (Sanford, Antibiotic essentials…) vẫn đang khuyến cáo moxifloxacin sử dụng đơn độc trong các trường hợp nhiễm khuẩn từ nhẹ tới vừa.

TLTK:
1. D.R.Snydman, National survey on the Susceptibility of Bacteroides fragilis group: report and analysis of trends in the US from 1997 to 2004.
2. Leslie Schultz, Economic impact of redundant antimicrobial therapy in US hospitals
3. D.R.Synydman, lessons learned from the Anaerobe survey: historical perspective and review of the most recent data (2005-2007)
4. Rattanaumpawan, Impact of antimicrobial stewardship programme changes on unnecessary double anaerobic coverage therapy
5. The Nebraska medical center, Double anaerobic coverage: what is the role in the clinical practice?

Trích dẫn: Bản tin Dược lâm sàng số 01.2016, Bộ phận Dược lâm sàng, Khoa Dược, Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City.

facebook
34

Bài viết liên quan

Tương tác thuốc liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia

tra-cuu-thuoc

THÔNG TIN THUỐC

TRA CỨU NGAY