MỚI

Tiếp cận trẻ bị sốt: Định nghĩa, cơ chế, ảnh hưởng và điều trị

Ngày xuất bản: 08/05/2023

Sốt là triệu chứng rất phổ biến ở trẻ em và là dấu hiệu của nhiều bệnh lý khác nhau, từ nhẹ đến nghiêm trọng. Việc tiếp cận trẻ bị sốt đúng cách rất quan trọng để chẩn đoán và điều trị bệnh một cách hiệu quả. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về Tiếp cận trẻ bị sốt, bao gồm các nguyên nhân gây sốt, cách đo và kiểm tra sốt ở trẻ em, những dấu hiệu cần lưu ý và các phương pháp điều trị sốt hiệu quả.

Chăm sóc trẻ bị sốt | Vinmec
Chăm sóc trẻ bị sốt | Vinmec

1. Định nghĩa sốt

– Sốt khi thân nhiệt cơ thể vượt quá giới hạn bình thường, nhiệt độ ở nách ≥ 37,5ºC (nách khô ráo) hoặc ở hậu môn ≥ 38oC.
– Phát hiện triệu chứng sốt bằng cách hỏi bà mẹ, sờ vào ngực trẻ ở vùng nách hoặc đo nhiệt độ (Độ nhạy 84%, độ đặc hiệu 76%).

– Phân độ sốt:
o Trẻ sơ sinh khỏe mạnh (từ 0 đến 28-30 ngày tuổi) và trẻ từ 1-3 tháng tuổi, sốt khi nhiệt độ tại trực tràng ≥38.0ºC (100.4ºF).
o Trẻ từ 3 -36 tháng tuổi, sốt thường được xác định khi nhiệt độ trực tràng ≥38 39ºC (100102ºF) và khi nhiệt độ trực tràng ≥39.0ºC(102.2ºF) nếu không có dấu hiệu nhiễm trùng trên lâm sàng.
o Ở trẻ lớn hơn và người lớn tuổi, sốt có thể được xác định khi nhiệt độ tại miệng ≥37.8 – 39.4ºC (100 – 103ºF) và có tình trạng cần quan tâm khi nhiệt độ tại miệng ≥39.5ºC.

2. Cơ chế gây sốt

a. Trung tâm điều hòa thân nhiệt:
– Trung tâm điều hòa thân nhiệt ở vùng trước thị của vùng dưới đồi (hypothalamus), ở vùng này có những neuron có hoạt động thay đổi liên tục đối với sự thay đổi nhiệt độ (đo bằng điện thế hoạt động), đó là các tế bào khởi phát cơ chế điều nhiệt.
– Điểm nhiệt (set point) là nhiệt độ mà TTĐHTN phải điều hòa giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt, để thân nhiệt được giữ ổn định ở nhiệt độ đó.
– Khi mà sản nhiệt tăng, hay giảm thải nhiệt hoặc cả hai thì sẽ gây tăng thân nhiệt, biểu hiện là sốt.

b. Điều hòa thân nhiệt:

Các yếu tố gây sốt còn gọi là chất gây sốt ngoại sinh (exogenous pyrogen/EP). Ngày nay người ta biết rõ rằng các yếu tố gây sốt tác động lên tế bào thực bào có nguồn gốc tủy xương làm sản xuất ra chất gây sốt nội sinh (thường là IL1 Và IL6). Chất gây sốt nội sinh tác động lên trung tâm điều nhiệt bằng cách gắn lên neuron cảm nhận nhiệt độ ở vùng trước thị ở vùng dưới đồi làm cho các tế bào nội mạc của mạch máu tổng hợp ra các sản phẩm từ Arachidonic acid là PGE2, gây sự thay đổi hệ thống tín hiệu thứ hai là AMP vòng (cAMP) làm thay đổi điểm điều nhiệt gây ra sốt.
– Do chủng ngừa
– Do cảm nắng hay các chứng cảm thông thường.
– Do mặc quá nhiều quần áo
– Bệnh ung thư, huyết thanh, bệnh rối loạn chuyển hóa.
– Do thuốc: kháng sinh, adrenalin, cafein…

3. Ảnh hưởng của sốt:

a. Có lợi:

– Tăng khả năng đáp ứng miễn dịch: tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính, tăng khả năng sản xuất kháng thể, bổ thể.
– Ức chế sinh trưởng của vi khuẩn nhờ tăng nhiệt độ, giảm lượng sắt trong huyết thanh.
– Tạo điều kiện cho virus tiêu hủy lysosome gây chết tế bào kéo theo sự chết của virus đồng thời ức chế không đặc hiệu đến sự tổng hợp của nhiều chất và sự sinh trưởng của virus qua trung gian interferon
– Tăng chuyển hóa tại gan: tăng chuyển hóa năng lượng, tăng khả năng chống độc, khử độc…
– Thay đổi nội tiết: tăng thyroxin, adrenalin, noradrenalin, cortisol…

b. Có hại: Xảy ra khi sốt cao kéo dài, sốt ở những cơ thể suy yếu, suy dinh dưỡng như:
– Tăng phản ứng quá mẫn, shock
– Mất nước, rối loạn điện giải qua mồ hôi và tăng nhịp thở
– Có thể gây co giật do sốt
– Đắng miệng, chán ăn, khô niêm mạc, giảm tiết dịch và nhu động ống tiêu hóa
– Suy tim, kiềm hô hấp
– Sốt cao gây vỡ hồng cầu gây thiếu máu, tăng chuyển hóa gây suy kiệt

4. Điều trị

4.1 Lau mát:

– Cởi bớt quần áo, cho trẻ mặc đồ mỏng và rộng để dễ thoát nhiệt.
– Cho trẻ nằm ở nơi thoáng mát, giảm nhiệt trong phòng.
– Cho trẻ uống nhiều nước.
– Cho trẻ dùng thuốc hạ sốt.
– Lau mát cho trẻ bằng nước ấm.

Sử dụng 5 khăn ướt nhỏ: 4 khăn đặt ở hai bên nách và hai bên bẹn, 1 khăn dùng để lau khắp người. Thay mỗi 2-3 phút. Ngưng lau khi nhiệt độ bé xuống dưới 38,50C hoặc sau khi đã lau 30 phút.

Lau khô và cho bé mặc lại đồ mỏng. Có thể tắm cho bé bằng nước ấm. Nên dùng nước ấm có nhiệt độ thấp hơn 20 độ C so với thân nhiệt trẻ.
Khi lau mát là cần thiết để điều trị sốt, đề nghị lau mát với độ ẩm thích hợp. Lau mát có hiệu quả hơn ngâm bởi vì bay hơi ở da làm tăng thêm mất nhiệt.

Mặc dù lau với nước lạnh giúp giảm nhiệt độ có thể nhanh hơn, nhưng đồng thời cũng gây khó chịu hơn.
Rượu không nên được dùng vì khi nó bốc lên có thể hấp thu qua màng phế nang hoặc có thể xuyên qua da, gây độc hệ thần kinh trung ương

4.2 Paracetamol (Acetaminophen)

Liều của Acetaminophen là 10-15 mg/kg (max 800 mg-1 g) theo đường uống mỗi 4-6h (không quá 5 liều/24h) với liều tối đa mỗi ngày là 75 mg/kg mỗi ngày cho tới 4 g/ngày (vài công thức đề nghị với liều tối đa trên ngày thấp hơn).
Xấp xỉ 80% trẻ sốt được điều trị với Acetaminophen giảm khoản 1-2°C (1.8 to 3.6°F). Acetaminophen bắt đầu hiệu quả sau 30-60 phút và đặt đỉnh sau 3-4h. Thời gian tác dụng kéo dài 4-6h

4.3 Ibuprofen

  • Ibuprofen được đề nghị như là thuốc hạ sốt ban đầu khi cần chỉ định giảm viêm và hạ sốt (vd trẻ bị viêm khớp thiếu niên). Liều của Ibuprofen là 10 mg/kg (max liều 600 mg) theo đường miệng mỗi 6h với liều tối đa mỗi ngày là 40 mg/kg cho tới 2,4 g/ngày.
  • Ibuprofen bắt đầu hiệu quả trong <60 phút và đạt đỉnh (giảm nhiệt độ từ 1-2°C [1.8 to 3.6°F]) trong khoản 3-4h. Thời gian tác dụng kéo dài 6-8h.
  • Ibuprofen thường không được chỉ định với trẻ <6 tháng. Với trẻ giới hạn chức năng thận trên trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ và có khả năng làm tăng nguy cơ ngộ độc thận. Tác dụng phụ của Ibuprofen có thể bao gồm viêm dạ dày và xuất huyết dạ dày.

Note: không đề nghị sử dụng phối hợp hay xen kẽ giữa acetaminophen và ibuprofen để điều trị sốt trên trẻ. Mặc dù phối hợp hoặc xen kẽ 2 loại thuốc có thể có tác dụng hơn so với sử dụng đơn độc trong việc giảm sốt nhưng chưa rõ ràng rằng đây là giảm lâm sàng. Bên cạnh có ít thông tin về ảnh hưởng gây khó chịu cho trẻ hoặc độ an toàn của sử dụng phối hợp hoặc xen kẽ trong điều trị hạ sốt và theo lý thuyết có thể gây tổn thương gan hoặc thận.

4.4 Nhập viện khi:

– Trẻ < 2 tháng tuổi, có nhiệt độ ≥ 380C bất kể có triệu chứng gì khác hay không
– Trẻ ≥ 2 tháng: khi có dấu hiệu sau: không thể uống được hoặc bỏ bú, nôn ói tất cả mọi thứ, co giật, li bì khó đánh thức, cổ gượng, thóp phồng, sốc, dấu hiệu xuất huyết da niêm mạc

>>> Xem thêm: Tiếp cận lâm sàng sốt xuất huyết theo Bộ Y tế

Nguồn tham khảo

  • Giáo trình đại học nhi khoa – Đại học y dược Huế tập 1,2.
  • Giáo trình đại học nhi khoa – Đại học y dược TP HCM tập 1,2.
  • Fever without a source in children 3 to 36 months of age – Coburn H Allen, MD.
  • Fever in Children: Pearls and Pitfalls – Egidio Barbi, Pierluigi Marzuillo, Elena Neri, Samuele Naviglio, and Baruch S. Krauss, Sari A. Acra, Academic Editor .
facebook
12

Bài viết liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia

tra-cuu-thuoc

THÔNG TIN THUỐC

TRA CỨU NGAY