MỚI

Giảm đau sau phẫu phẫu thuật tim hở

Ngày xuất bản: 03/05/2023

Giảm đau sau phẫu thuật tim hở là yếu tố giúp cải thiện sau phẫu thuật. Việc kiểm soát đau làm giảm phản ứng thần kinh giao cảm, làm giảm nguy cơ thiếu máu cơ tim và nhịp tim không đều và cải thiện chức năng hô hấp, tâm lý tổng thể và phục hồi thể chất của bệnh nhân sau phẫu thuật. Đau thường rất nổi bật khi ho hoặc thở sâu. Đau thường giảm sau khi loại bỏ các ống dẫn lưu.

1. Giới thiệu về giảm đau sau phẫu thuật tim:

Giảm đau sau phẫu thuật tim là một vấn đề quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân. Phẫu thuật tim là một phẫu thuật lớn, đòi hỏi một thời gian phục hồi dài và đôi khi gây ra đau và khó chịu. Việc kiểm soát đau sau phẫu thuật tim là rất quan trọng để đảm bảo bệnh nhân có thể hồi phục nhanh chóng và tránh các biến chứng liên quan đến đau.

Các phương pháp giảm đau sau phẫu thuật tim bao gồm sử dụng thuốc giảm đau, đường tủy sống và các phương pháp giảm đau khác. Thường thì thuốc giảm đau opioid được sử dụng để giảm đau sau phẫu thuật tim. Ngoài ra, cũng có thể sử dụng các loại thuốc khác như acetaminophen và ibuprofen để hỗ trợ giảm đau và giảm nguy cơ tác dụng phụ của thuốc opioid.

Phương pháp giảm đau đường tủy sống cũng là một phương pháp hiệu quả để giảm đau sau phẫu thuật tim. Phương pháp này bao gồm việc tiêm thuốc giảm đau trực tiếp vào đường tủy sống để giảm đau và giảm nguy cơ tác dụng phụ của thuốc khi so sánh với việc sử dụng thuốc giảm đau qua đường uống.

Bên cạnh đó, các phương pháp giảm đau khác như massage, yoga và các phương pháp giảm đau tự nhiên khác cũng có thể hỗ trợ giảm đau sau phẫu thuật tim.

2. Các phương pháp giảm đau sau phẫu thuật.

2.1 Khi còn ống nội khí quản

  • Phương pháp như  dùng hệ thống giảm đau ON-Q Pain Relief System với bupivacaine 0,5% 4 mL/giờ có thể giảm đau vùng xương ức và giảm nhu cầu dùng thuốc giảm đau opioid. Điều này có lợi đặc biệt khi bệnh nhân được rút ống nội khí quản ngay trong phòng mổ.
  • Trong khi bệnh nhân còn ống nội khí quản, thuốc giảm đau gây mê trong phẫu thuật còn có tác dụng giảm đau, nhưng propofol không phải là thuốc giảm đau và có thể cần sử dụng thêm các loại thuốc giảm đau vào thời điểm rút ống nội khí quản. Dexmedetomidine có lợi ích ở chỗ nó có tính giảm đau và an thần. Sử dụng thuốc giảm đau opioid phù hợp với bệnh nhân có thở máy kéo dài. Tuy nhiên, nếu rút ống nội khí quản được dự kiến sớm, một loạt các phương pháp giảm đau có thể giảm hoặc loại bỏ nhu cầu sử dụng opioid vào thời điểm rút ống nội khí quản. Các phương pháp này bao gồm sử dụng thuốc giảm đau không steroid như ketorolac 30 mg (IV) và paracetamol (IV).

2.2 Sau khi rút ống nội khí quản:

  • Sử dụng các loại thuốc giảm đau không opioid luôn là tốt nhất và có thể cung cấp giảm đau đủ mức độ cho hầu hết bệnh nhân như Ketorolac (15-30mg IV) trong vòng 72 giờ hoặc Paracetamol IV.
  • Paracetamol thường giảm đau đủ mức cho bệnh nhân trong vài ngày đầu sau đó có thể chuyển sang sử dụng thuốc giảm đau qua đường uống. Gabapentin 300 mg, tối đa ba lần mỗi ngày, thường được khuyến nghị để điều trị đau dây thần kinh, nhưng nó cũng thường hữu ích trong việc cung cấp giảm đau ngay sau phẫu thuật. Tramadol 50-100mg mỗi 4-6 giờ cũng có thể được xem xét.
  • Về phương pháp giảm đau bằng cách sử dụng máy tiêm tĩnh mạch do bệnh nhân tự điều chỉnh (PCA), nhiều loại thuốc giảm đau opioid có thể được sử dụng để cung cấp giảm đau hiệu quả. Một nghiên cứu cho thấy việc sử dụng morphine (1mg bolus và 0,3mg/h truyền tĩnh mạch), fentanyl (10mcg bolus và 1mcg/kg/h truyền tĩnh mạch) hoặc remifentanil (0,5mg/kg bolus và 0,05mcg/kg/phút truyền tĩnh mạch) bắt đầu sau khi phẫu thuật hoàn tất trong vòng 24 giờ cung cấp giảm đau tương đương nhưng có ít tác dụng phụ hơn khi sử dụng remifentanil.

2.3 Các lưu ý khác:

  • Giảm đau bằng đường tủy sống với thuốc giảm đau opioid và bupivacaine có lợi trong việc giảm đau, gia tăng khả năng rút ống nội khí quản và cải thiện chức năng hô hấp, đặc biệt là ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và béo phì.
  • Một số liều thuốc giảm đau opioid nhỏ hoặc một liều thuốc giảm đau opioid liên tục (như morphin sulfat 0,02mg/kg/h cho bệnh nhân dưới 65 tuổi và 0,01mg/kg/h cho bệnh nhân trên 65 tuổi) có thể được xem xét để giảm đau đồng thời giảm thiểu suy hô hấp.
  • Đôi khi, đau dai dẳng khó chịu và không thể điều trị bằng các phương pháp trên, đặc biệt là ở những bệnh nhân đã sử dụng opioid trước đó, có thể cần sử dụng Hydromorphone tĩnh mạch (Dilaudid) 1-2mg mỗi 2-3 giờ, nhưng có nguy cơ về suy hô hấp hoặc miếng dán fentanyl (25-50mcg/h miếng mỗi 72 giờ).

3. Tổng kết về giảm đau sau phẫu thuật tim hở:

Giảm đau hiệu quả sau phẫu thuật tim hở là rất cần thiết để giảm sự khó chịu cho bệnh nhân, giảm thiểu tác dụng phụ của thuốc giảm đau opioid và giúp bệnh nhân phục hồi nhanh chóng. Có nhiều phương pháp giảm đau đã được sử dụng, bao gồm sử dụng các loại thuốc không opioid, máy tiêm tĩnh mạch do bệnh nhân tự điều chỉnh, đường tủy sống với thuốc giảm đau opioid và bupivacaine. Tuy nhiên, việc chọn phương pháp giảm đau phù hợp phải được xem xét kỹ lưỡng, đặc biệt là trong trường hợp bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và béo phì hoặc đã sử dụng opioid trước đó.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã đưa hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại đạt chuẩn vào công tác thăm khám, chẩn đoán và điều trị hỗ trợ giảm đau sau phẫu thuật tim hở.

facebook
19

Bài viết liên quan

Thuốc liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia