MỚI

Tin tức

Ngày xuất bản: 13/10/2025

Năm 2021, hệ thống Prostate Imaging for Recurrence Reporting (PI‑RR) được giới thiệu để chuẩn hóa kỹ thuật và diễn giải hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) vùng chậu sau điều trị ung thư tuyến tiền liệt (TTL) bằng phẫu thuật (RP) hoặc xạ trị (RT) do Panebianco và cộng sự đề xuất trong bộ hướng dẫn đồng thuận quốc tế công bố trên European Urology Oncology (2021). Sau đó, Pecoraro và cộng sự đã nghiên cứu đánh giá hiệu năng, độ tái lập đăng trên Radiology (2022), Shetty và cộng sự hướng dẫn sử dụng chi tiết (User guide) đăng trên RadioGraphics (tháng 8/2025). Từ những công bố này, bài viết tổng hợp bằng chứng hiện tại và hướng dẫn áp dụng PI‑RR nhằm giúp bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và các chuyên khoa liên quan đồng thuận trong đánh giá tái phát sau điều trị ung thư TTL trên MRI. PI‑RR sử dụng thang 5 bậc dựa trên các chuỗi xung T2W, khuếch tán (DWI) và động học đối quang từ (DCE). Các nghiên cứu đa trung tâm ghi nhận ngưỡng PI‑RR ≥ 3 cho độ nhạy và đặc hiệu tốt cho cả sau RT và sau RP, tái lập kết quả cao với hệ số tương quan 0,87. Ngoài việc mô tả chi tiết kỹ thuật chụp, tiêu chí điểm số và ví dụ lâm sàng, bài viết còn bàn luận các khuyến nghị thực hành như: thời điểm cần sinh thiết, theo dõi hoặc chụp PET, cách dùng PI‑RR kết hợp với PSA để định hướng điều trị bổ trợ. Việc phổ biến PI‑RR nhằm giúp tăng tính đồng nhất trong báo cáo và nâng cao hiệu quả chăm sóc bệnh nhân ung thư TTL sau điều trị.

Tin tức

Ngày xuất bản: 01/10/2025

TÓM TẮT Fluoropyrimidine, ví dụ như fluorouracil (FU) và capecitabine, là thuốc cơ bản của các phác đồ hóa trị cho nhiều loại bệnh ác tính bao gồm các ung thư vùng đầu và cổ, thực quản, dạ dày, đại tràng, trực tràng, và vú. Ngoài ra, nhóm thuốc này còn được dùng để làm tăng nhạy xạ. Fluoropyrimidines cũng có một số độc tính quan trọng, tùy theo liều lượng và thời gian dùng thuốc. Độc tính trên tim liên quan đến fluoropyrimidine, được báo cáo lần đầu tiên vào năm 1969 [1], là một tác dụng phụ không phổ biến nhưng có khả năng gây chết người. Hiện tại, FU là thuốc hóa trị phổ biến thứ hai liên quan đến độc tính trên tim, sau anthracyclines [2]. Mặc dù vậy, cơ chế bệnh sinh và cách xử trí tối ưu độc tính trên tim liên quan đến fluoropyrimidine vẫn còn chưa được biết rõ. Biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là đau thắt ngực (nhưng không tìm thấy nhồi máu cơ tim), loạn nhịp tim, suy tim, phù phổi cấp, ngừng tim, viêm màng ngoài tim và các thay đổi điện tâm đồ (ECG) không triệu chứng. Cũng như các độc tính khác liên quan đến fluoropyrimidine, tỷ lệ xuất hiện thay đổi tùy theo cách dùng và đường dùng. Việc nhận biết độc tính trên tim của fluoropyrimidine là cần thiết đối với bác sĩ lâm sàng. Tái sử dụng thuốc sau khi đã biểu hiện độc tính có thể dẫn đến tổn thương tim vĩnh viễn và thậm chí tử vong. Mặt khác, việc ngừng sớm hóa trị thiết yếu (hóa trị hỗ trợ) do các biến cố tim không thực sự liên quan có thể làm giảm hiệu quả hóa trị và thậm chí có thể ảnh hưởng đến cơ hội chữa khỏi ung thư.

Tin tức

Ngày xuất bản: 30/09/2025

Tác giả: Đoàn Trung Hiệp1, Lê Đức Anh2, Dương Văn Nghĩa2, Bồ Thị Minh Châm3, Phạm Thị Quỳnh31Bác sĩ Trưởng khoa, Khoa xạ trị- Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City. Email: ro.dthiep2009@gmail.com. Cellphone: 0985220082. Địa chỉ: Số 458 Minh Khai – P. Vĩnh Tuy – Q. Hai Bà Trưng – Hà Nội. 2Bác sĩ xạ trị, Khoa xạ trị- Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City. 3Điều dưỡng Khoa xạ trị- Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City.Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị giảm đau bằng xạ trị ở bệnh nhân ung thư di căn xương tại bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City. Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Chúng tôi mô tả hồi cứu trên 22 bệnh nhân ung thư có di căn xương được điều trị bằng phương pháp xạ trị tại bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 1 năm 2024. Kết quả: 22 bệnh nhân phù hợp tiêu chí lựa chọn với tuổi trung bình là 59,5 ± 15,1, tỷ lệ nam/nữ = 1. Đa số là di căn xương từ ung thư phổi và vú chiếm 64%. Số lượng tổn thương di căn chủ yếu là đa ổ, chiếm 81,8%. Mức liều- phân liều điều trị là từ 8Gy/1 phân liều - 30Gy/10 phân liều. Có 2 bệnh nhân sử dụng kỹ thuật SBRT với mức liều- phân liều 24Gy/3 phân liều. Các bệnh nhân được sử dụng thuốc giảm đau chủ yếu bậc 2, chiếm 95,4%, chỉ có 1 bệnh nhân phải sử dụng morphin, chiếm 4,6%. Điểm đau theo thang điểm cường độ đau dạng nhìn (VAS- visual analog scale) và thang điểm khách quan được điều chỉnh dựa trên bộ câu hỏi Wisconsin (Wilconsin BPQ- Brief Pain Questionaire) trước điều trị trung bình lần lượt là 4,6 ± 1,2 và 4,3 ± 1,5. Tại thời điểm 1 tháng sau xạ trị, có sự khác biệt về mức độ đau theo cả hai thang điểm so với trước xạ trị với giá trị p <0,05. Tuy nhiên không có sự khác biệt về mức độ đau ở cả hai thang điểm so giữa thời điểm 3 tháng và 1 tháng sau xạ trị với p> 0,05. Tại thời điểm 1-3 tháng, có 90,1% bệnh nhân có đáp ứng giảm đau. Trong 20/22 bệnh nhân có đáp ứng giảm đau, chủ yếu các bệnh nhân bắt đầu có đáp ứng giảm đau tại thời điểm 7-14 ngày sau xạ trị. Đa số các bệnh nhân duy trì được đáp ứng giảm đau trong 3-6 tháng, chiếm 71,4%. Kết luận: Tỷ lệ đáp ứng giảm đau của xạ trị cao là 90,1%. Thời gian bắt đầu giảm đau thường gặp là sau xạ 7-14 ngày. Thời gian duy trì đáp ứng thường gặp là 3-6 tháng. Từ những kết quả thu được cho thấy xạ trị là phương pháp điều trị giảm đau hiệu quả cao cho ung thư di căn xương.

Tin tức

Ngày xuất bản: 30/09/2025

1. Tóm tắt Chúng tôi báo cáo một trường hợp di căn hạch nhiều nơi, loại ung thư biểu mô tuyến, có kèm tế bào mặt nhẫn, xuất hiện trên bệnh nhân có tiền sử bệnh Paget quanh hậu môn đã điều trị tạm ổn trước đó. Từ đó gợi ý mối liên quan giữa tiền sử bệnh Paget quanh hậu môn như là một tổn thương ác tính nguyên phát, đồng thời cho thấy sự cần thiết phối hợp giữa chuyên khoa Da liễu (điều trị bệnh Paget ở da) với chuyên khoa Ung bướu trong việc quản lý điều trị căn bệnh hiếm gặp này.

Tin tức

Ngày xuất bản: 30/09/2025

1. Tóm tắt Ung thư vú là bệnh lý ác tính phổ biến nhất ở phụ nữ. Tình trạng khuếch đại gen HER2 hoặc bộc lộ quá mức protein HER2 là yếu tố quan trọng cho tiên lượng và điều trị. Do đó, việc đánh giá chính xác tình trạng HER2 bằng một xét nghiệm chẩn đoán đi kèm đáng tin cậy là rất cần thiết. Bên cạnh các phương pháp thường dùng như hóa mô miễn dịch (IHC) và lai tại chỗ huỳnh quang (FISH), kỹ thuật lai tại chỗ hai màu Dual-ISH đã được phát triển với nhiều ưu điểm và ngày càng được áp dụng rộng rãi. Bài viết này nhằm tổng quan về nguyên lý, ưu nhược điểm, cách phiên giải kết quả, và ứng dụng lâm sàng của xét nghiệm Dual-ISH trong ung thư vú.

Tin tức

Ngày xuất bản: 30/09/2025

1. TÓM TẮT U diệp thể (UDT) là khối u xơ biểu mô hiếm gặp của vú (<1%), được WHO phân loại thành ba nhóm: lành tính, ranh giới và ác tính. Việc phân biệt UDT với u xơ tuyến trên lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và thậm chí giải phẫu bệnh vẫn còn khó khăn. Phương pháp điều trị truyền thống là phẫu thuật cắt rộng với diện cắt ≥1 cm nhằm hạn chế tái phát tại chỗ. Tuy nhiên, UDT lành tính ít có nguy cơ tái phát, do đó cách xử trí còn nhiều tranh luận. Gần đây, kỹ thuật cắt bỏ có hỗ trợ chân không dưới hướng dẫn siêu âm (VAE) – vốn thường dùng cho các tổn thương lành tính như u xơ tuyến, u nhú nội ống – được nghiên cứu ứng dụng cho các tổn thương nguy cơ cao hoặc dễ tái phát, trong đó có UDT. Dựa trên một trường hợp cụ thể, bài viết này giới thiệu phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu bằng hút chân không như một lựa chọn thay thế hiệu quả cho phẫu thuật trong lấy bỏ u vú lành tính kích thước lớn. Trường hợp được báo cáo là một UDT > 6 cm, đã được loại bỏ hoàn toàn bằng VAE, cho kết quả điều trị và thẩm mỹ tối ưu: khối u được lấy bỏ trọn vẹn, lượng máu tụ sau thủ thuật ít, sẹo da nhỏ và không ghi nhận tái phát tại chỗ sau 1 năm theo dõi.
'