MỚI

Tin tức

Ngày xuất bản: 28/02/2026

Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là một trong những biến chứng thường gặp và tốn kém nhất sau phẫu thuật, chiếm khoảng 20% các nhiễm khuẩn liên quan chăm sóc y tế và là nguyên nhân hàng đầu gây tái nhập viện không план định sau mổ. Kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật (KSDP) được xem là một trong những biện pháp hiệu quả nhất nhằm giảm tỷ lệ NKVM. Tuy nhiên, việc sử dụng không đúng thời điểm, kéo dài không cần thiết hoặc lựa chọn kháng sinh không phù hợp vẫn phổ biến và làm giảm hiệu quả bảo vệ, đồng thời góp phần thúc đẩy kháng kháng sinh. Bài tổng quan này trình bày lịch sử hình thành của KSDP, cơ sở khoa học cho việc sử dụng, các mốc phát triển quan trọng và hậu quả lâm sàng của việc áp dụng sai chiến lược dự phòng.

Tin tức

Ngày xuất bản: 28/02/2026

Viêm bàng quang do ketamine (Ketamine-induced cystitis - KIC) là bệnh tiết niệu nghiêm trọng do lạm dụng ketamine, gây triệu chứng đường tiết niệu dưới (lower urinary tract symptoms - LUTS) dai dẳng và dễ chẩn đoán nhầm, nguy cơ gây tổn thương bàng quang không hồi phục. Chúng tôi trình bày ca bệnh, Nam 33 tuổi, lạm dụng ketamine 8 năm, có LUTS phức tạp 2 năm với tiểu nhiều (10-15 phút/lần), tiểu gấp, đau vùng hạ vị, đái  máu , đái buốt, đái rắt. Bệnh nhân được chẩn đoán viêm đường tiết niệu, cấy nước tiểu âm tính, điều trị nhiều loại kháng sinh nhưng không hiệu quản . Chụp cắt lớp vi tính tiết niệu thấy bàng quang co nhỏ, thành dày lan tỏa, không tắc nghẽn. Soi bàng quang: niêm mạc bàng quang  viêm dày xung huyết, cột hõm. Sinh thiết niêm mạc bàng quang: viêm bàng quang Bệnh nhân được chẩn đoán KIC, điều trị bảo tồn gồm ngừng ketamine, dùng thuốc (giảm đau thần kinh, kháng cholinergic). Sau 7 ngày, triệu chứng cải thiện rõ, khoảng cách đi tiểu 60 - 120 phút, không có hội chứng cai. Bệnh nhân được xuất viện và quản lý ngoại trú. Kêt luận: KIC cần được nghĩ đến ở người trẻ có LUTS dai dẳng. Khai thác tiền sử lạm dụng chất ketamin, điều trị quan trong nhất là ngừng sử dụng ketaminị.

Tin tức

Ngày xuất bản: 26/02/2026

Hiệp hội Gây mê Mỹ (American Society of Anesthesiologists- ASA) đã công bố Hướng dẫn Thực hành năm 2026, đưa ra các khuyến cáo cập nhật, dựa trên bằng chứng về kiểm soát đau quanh phẫu thuật bằng gây tê tại chỗ và gây tê vùng, tập trung vào các ca phẫu thuật tim mạch, đoạn nhũ và phẫu thuật bụng ở cả người lớn và trẻ em. Hướng dẫn này đề cập đến các phương pháp nhằm giảm thiểu mức độ đau sau phẫu thuật và/hoặc nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau opioid.- Khoảng 75% bệnh nhân phẫu thuật trải qua cơn đau từ vừa đến nặng. Đau sau phẫu thuật thường đi kèm với căng thẳng về sinh lý và tâm lý với những hậu quả ngắn hạn và dài hạn. Quản lý đau sau phẫu thuật không đầy đủ có liên quan đến đau mãn tính, có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống lâu dài. Các hướng dẫn hiện nay đưa ra các khuyến cáo chung mà không phải lúc nào cũng áp dụng được cho các vị trí phẫu thuật và mức độ xâm lấn khác nhau, gây khó khăn cho các bác sĩ lâm sàng trong thực hành hàng ngày.Quản lý đau quanh phẫu thuật tối ưu tạo điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi chức năng sau phẫu thuật. Chiến lược giảm đau đa mô thức giúp cải thiện điểm đau sau phẫu thuật và giảm nhu cầu sử dụng opioid. Do các khuyến cáo về thuốc giảm đau toàn thân là nhất quán đối với tất cả bệnh nhân và phẫu thuật, nên việc cá thể hóa các kỹ thuật gây tê vùng và tê tại chỗ là trọng tâm để tối ưu hóa phác đồ giảm đau đa mô thức, nhằm giảm thiểu tối đa việc sử dụng opioid. Do đó ASA đã tập trung đánh giá các kỹ thuật gây tê vùng/tê tại chỗ cụ thể cho từng phẫu thuật. 

Tin tức

Ngày xuất bản: 26/02/2026

Kyeong Tae Min. Practical guidance for monitored anesthesia care during awake craniotomy. Anesthesia and Pain Medicine 2025;20(1):23-33.Phẫu thuật não tỉnh là một bước tiến quan trọng trong phẫu thuật thần kinh hiện đại, đặc biệt trong điều trị u não vùng chức năng và động kinh kháng trị. Phương pháp này cho phép đánh giá trực tiếp ngôn ngữ, vận động và các chức năng thần kinh cao cấp trong quá trình phẫu thuật, từ đó tối ưu hóa mức độ cắt bỏ tổn thương mà vẫn bảo tồn chức năng não.Trong phẫu thuật não tỉnh, gây mê theo dõi (Monitored Anesthesia Care – MAC) giữ vai trò then chốt. Khác với gây mê toàn thân thông thường, MAC đòi hỏi bác sĩ gây mê phải duy trì sự cân bằng tối ưu giữa mức độ an thần, giảm đau, đồng thời đảm bảo bệnh nhân tự thở, giao tiếp tốt và hợp tác trong các giai đoạn lập bản đồ chức năng não. Đây là một thách thức lớn nhưng hoàn toàn khả thi nếu có phương pháp phù hợp và chuẩn bị kỹ lưỡng.

Tin tức

Ngày xuất bản: 26/02/2026

Tiêu chảy du lịch (Traveler’s Diarrhea – TD) là bệnh lý tiêu hóa thường gặp nhất ở người đi du lịch quốc tế, đặc biệt tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Nguyên nhân chủ yếu là vi khuẩn, trong đó Escherichia coli sinh độc tố ruột (ETEC) chiếm tỷ lệ cao nhất. Mặc dù đa số trường hợp có diễn tiến tự giới hạn, TD vẫn có thể gây mất nước, gián đoạn sinh hoạt và ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe, đặc biệt ở nhóm nguy cơ cao.Bài viết này tóm tắt các bằng chứng y văn hiện nay về dịch tễ học, căn nguyên, biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán, điều trị – vai trò của kháng sinh – và các biện pháp phòng ngừa tiêu chảy du lịch.Tiêu chảy du lịch chủ yếu lây truyền qua đường phân – miệng bởi tác nhân gây bệnh, thường thông qua việc tiêu thụ thực phẩm hoặc nước bị nhiễm bẩn. Thời gian ủ bệnh thay đổi tùy theo tác nhân gây bệnh, trong đó virus và vi khuẩn thường có thời gian ủ bệnh từ 6 đến 24 giờ, còn ký sinh trùng đường ruột cần 1 đến 3 tuần trước khi xuất hiện triệu chứng.Cơ chế bệnh sinh của tiêu chảy du lịch khác nhau tùy theo tác nhân gây bệnh nhưng có thể được chia thành hai nhóm chính: không viêm và viêm. Các tác nhân không viêm gây giảm khả năng hấp thu của niêm mạc ruột, từ đó làm tăng lượng dịch bài tiết của đường tiêu hóa. Ngược lại, các tác nhân gây viêm làm tổn thương niêm mạc ruột thông qua việc giải phóng độc tố tế bào hoặc xâm nhập trực tiếp vào niêm mạc. Sự mất bề mặt niêm mạc này một lần nữa dẫn đến giảm hấp thu và hậu quả là tăng số lần đi tiêu.

Tin tức

Ngày xuất bản: 26/02/2026

Các kỹ thuật gây tê giảm đau cho phẫu thuật cột sống thường ít được áp dụng mặc dù đã chứng tỏ được lợi ích giảm đau sau mổ. Nghiên cứu sử dụng tê vùng để điều trị đau sau mổ cột sống đã được thực hiện từ nhiều năm qua. Tê trục thần kinh làm giảm điểm đau và tiêu thụ thuốc phiện sau mổ cột sống khi so sánh với giảm đau toàn thân nhưng hiếm khi được lựa chọn sử dụng bởi phẫu thuật viên và ngay cả bác sĩ gây mê. Một số kỹ thuật gây tê mặt phẳng giữa các lớp cân cơ được cho là có thể cung cấp giảm đau hiệu quả cho phẫu thuật cột sống. Tuy nhiên cần thực hiện thêm nhiều nghiên cứu trong tương lai để chứng minh ưu thế vượt trội của kỹ thuật này so với các phương thức điều trị đau thông thường khác.Từ khóa: gây tê vùng, giảm đau sau mổ, phẫu thuật cột sống.

Tin tức

Ngày xuất bản: 26/02/2026

Tê thần kinh thẹn giúp giảm đau sau các phẫu thuật tiết niệu, phụ khoa và hậu môn trực tràng, đồng thời cũng được áp dụng hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị đau có nguồn gốc từ thần kinh thẹn. Tuy nhiên, kỹ thuật này chưa được áp dụng rộng rãi trên thực hành lâm sàng. Thần kinh thẹn có vài đặc điểm thay đổi về giải phẫu học; và nhận biết được sự thay đổi này rất cần thiết cho thực hành gây tê dưới hướng dẫn siêu âm. Để đánh giá tốt hơn hiệu quả kỹ thuật này, cần thực hiện nhiều nghiên cứu hơn nữa trong tương lai. Việc xác định vị trí thần kinh thẹn trên siêu âm sẽ góp phần tăng độ chính xác khi gây tê khi có kết hợp kích thích thần kinh.Từ khóa: thần kinh thẹn, đau cấp tính, đau mạn tính

Tin tức

Ngày xuất bản: 26/02/2026

Xạ trị vùng đầu cổ để điều trị ung thư có thể dẫn đến bệnh lý mạch máu khởi phát muộn ở các mạch máu lớn và nhỏ do tổn thương nội mạc, xơ hóa và xơ vữa động mạch tiến triển. Bệnh lý mạch máu liên quan đến xạ trị thường lan tỏa và xảy ra ở những vị trí không phổ biến, trái ngược với các tổn thương khu trú điển hình phát triển tại các vị trí phân nhánh mạch máu do xơ vữa động mạch khi không có bức xạ. Tùy thuộc vào vị trí và liều lượng bức xạ, các mạch máu bị ảnh hưởng có thể bao gồm động mạch cảnh ngoài sọ và động mạch đốt sống hoặc các mạch máu vòng nối Willis trong sọ.Bài viết này nhằm mục tiêu trình bày tổng quan các vấn đề liên quan đến bệnh lý mạch máu não sau xạ trị vùng cổ từ thực tế ca lâm sàng trong thực hành.

Tin tức

Ngày xuất bản: 26/02/2026

Hội chứng Joubert (JS) là một bệnh lý di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, thuộc nhóm bệnh lông mao (ciliopathy), đặc trưng bởi dị tật não phức tạp được gọi là "dấu hiệu răng hàm" (molar tooth sign - MTS). Chẩn đoán trước sinh, đặc biệt ở giai đoạn sớm, vẫn còn nhiều thách thức. Chúng tôi báo cáo một trường hợp thai phụ 35 tuổi, PARA 2002, có tiền sử một con mắc hội chứng Joubert do đột biến gen CEP290 di truyền từ bố và mẹ. Siêu âm chi tiết hệ thần kinh thai nhi ở tuần 14 + 5 ngày đã phát hiện "dấu hiệu eo mở - dấu omega", một dấu hiệu gợi ý sớm. Theo dõi đến tuần 19, các dấu hiệu kinh điển hơn đã xuất hiện, bao gồm thiểu sản – loạn sản thùy nhộng và bất thường hình thái não thất tư. Chọc ối và phân tích giải trình tự toàn bộ exome (WES) đã xác nhận chẩn đoán, phát hiện hai biến thể dị hợp tử kép trên gen CEP290 (NM_025114.4): một biến thể gây bệnh đã biết, c.6072C>A (p.Tyr2024Ter), và một biến thể sai nghĩa có ý nghĩa chưa chắc chắn, c.176T>C (p.Met59Thr) giống với kiểu gene của con thứ 2. Ca lâm sàng này nhấn mạnh giá trị của việc kết hợp siêu âm thần kinh chuyên sâu từ giai đoạn sớm và xét nghiệm di truyền trong việc chẩn đoán chính xác hội chứng Joubert, qua đó giúp tư vấn di truyền và quản lý thai kỳ hiệu quả.Từ khóa: Hội chứng Joubert, CEP290, chẩn đoán trước sinh, siêu âm thần kinh, dấu hiệu răng hàm, giải trình tự exome.
'