MỚI

Tin tức

Ngày xuất bản: 10/01/2026

Răng vĩnh viễn rơi khỏi ổ răng chiếm tỷ lệ 0.5-16% trong các loại chấn thương răng. Ngoài việc răng vĩnh viễn rơi khỏi ổ răng, có thể có gãy xương ổ răng, rách lợi đi kèm. Gặp nhiều ở răng cửa trên. Nguyên nhân phần lớn là do chơi thể thao, tai nạn như ngã, tai nạn xe… Đây là một trong những chấn thương răng nghiêm trọng nhất và tiên lượng phụ thuộc rất nhiều vào việc xử trí tức thì tại nơi xảy ra sự việc, việc xử trí sau khi răng rơi ra khỏi ổ và thời gian răng bị khô.

Tin tức

Ngày xuất bản: 10/01/2026

Trào ngược dạ dày – thực quản là hiện tượng sinh lý thường gặp, đặc biệt sau ăn. GERD xảy ra khi dịch dạ dày trào ngược vượt mức bình thường, gây triệu chứng có hoặc không kèm tổn thương niêm mạc thực quản. Bệnh biểu hiện bằng triệu chứng điển hình (ợ nóng, trào ngược, khó nuốt) và không điển hình (đau ngực không do tim, hen, viêm phổi, khàn giọng, ho sặc).

Tin tức

Ngày xuất bản: 10/01/2026

Huyết khối tĩnh mạch mạc treo có thể biểu hiện dưới dạng cấp tính, bán cấp hoặc mạn tính. Trước đây, huyết khối tĩnh mạch mạc treo cấp tính được xem là nguyên nhân chủ yếu của thiếu máu cục bộ mạc treo cấp. Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ trong nhận diện và phân loại các dạng thiếu máu mạc treo động mạch cấp tính có tắc nghẽn và không tắc nghẽn, tỷ lệ các trường hợp thiếu máu mạc treo do huyết khối tĩnh mạch mạc treo đã giảm xuống, hiện chiếm khoảng 10% tổng số các trường hợp thiếu máu cục bộ mạc treo cấp tính.

Tin tức

Ngày xuất bản: 10/01/2026

Tổn thương nhầy của ruột thừa (appendiceal mucinous lesions) là một nhóm bệnh lý không đồng nhất, đặc trưng bởi ruột thừa giãn và chứa chất nhầy. Thuật ngữ “mucocele” thường dùng để mô tả hình ảnh giãn nhầy trên lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh, nhưng không phải là một chẩn đoán mô bệnh học. Việc chưa thống nhất thuật ngữ tiếng Việt dễ gây nhầm lẫn giữa tổn thương lành tính và tân sinh, do đó “tổn thương nhầy của ruột thừa” được xem là thuật ngữ phù hợp hơn.

Tin tức

Ngày xuất bản: 09/01/2026

Xẹp phổi (atelectasis) là biến chứng thường gặp trong gây mê với tỷ lệ lên đến 75–90% bệnh nhân được thở máy trong phòng mổ, góp phần quan trọng trong tăng tỷ lệ biến chứng hô hấp sau mổ, giảm trao đổi khí và kéo dài thời gian nằm viện. Sinh lý bệnh xẹp phổi chu phẫu liên quan đến giảm thể tích cặn chức năng (FRC), hấp thu oxy, giảm hoạt động surfactant, rối loạn phân bố khí và thay đổi tư thế. Các yếu tố nguy cơ gồm béo phì, phẫu thuật bụng trên, phẫu thuật ngực, thời gian mổ kéo dài, sử dụng áp lực riêng phần oxy (FiO₂) cao và không sử dụng áp lực dương cuối kỳ thở ra (PEEP). Những năm gần đây, chiến lược thông khí bảo vệ phổi (lung-protective ventilation) đã chứng minh mang lại lợi ích: Thể tích thường lưu (VT) thấp, duy trì PEEP tối ưu, thường xuyên huy động phế nang (Alveolar recruitment maneuver :ARM) và cá thể hóa chiến lược thở máy nhằm giảm áp lực đẩy (driving pressure). Bên cạnh đó, chăm sóc trước và sau mổ như bỏ thuốc lá, tập thở cơ hoành, tối ưu hóa tình trạng dinh dưỡng, giảm đau đa mô thức và hỗ trợ hô hấp là yếu tố quan trọng. Mục tiêu của bài viết là cung cấp tổng quan cập nhật dựa trên bằng chứng y học từ 2020–2024 về các chiến lược phòng ngừa xẹp phổi trước, trong và sau mổ, bao gồm vai trò của PEEP, mức FiO₂, huy động phế nang, tư thế, và chăm sóc hậu phẫu, đồng thời đề xuất tiếp cận thực hành tối ưu cho bác sĩ gây mê – hồi sức nhằm giảm biến chứng hô hấp và cải thiện kết quả hồi phục sau phẫu thuật.

Tin tức

Ngày xuất bản: 09/01/2026

Giải mẫn cảm đặc hiệu dị nguyên (Allergen Immunotherapy – AIT), còn được gọi là liệu pháp miễn dịch đặc hiệu hoặc liệu pháp giải mẫn cảm, là phương pháp điều trị duy nhất được chứng minh có khả năng thay đổi tiến trình tự nhiên của bệnh dị ứng. AIT hoạt động bằng cách đưa dị nguyên gây dị ứng vào cơ thể người bệnh theo liều tăng dần, nhằm mục đích tái lập sự dung nạp miễn dịch (immunological tolerance).

Tin tức

Ngày xuất bản: 09/01/2026

Xuất huyết tiêu hóa là một vấn đề phức tạp thường gặp ở chuyên khoa tiêu hóa. Chảy máu ruột non hiếm gặp nhất nhưng lại là vấn đề mơ hồ nhất trong xuất huyết tiêu hóa. Tỷ lệ thường gặp xuất huyết tiêu hóa trên (từ thực quản đến tá tràng), xuất huyết tiêu hóa dưới (Từ đại tràng đến hậu môn), và xuất huyết ruột non tương ứng là 50%, 40%, và 10% (1). Chảy máu ruột non có thể được xem là một mảng bí hiểm trong đường tiêu hóa vì nội soi khó có thể quan sát được, do vị trí nằm trong khoang phúc mạc, di động và dài. Trước đây nhiều công bố gộp xuất huyết ruột non với xuất huyết tiêu hóa thấp hoặc như một xuất huyết tiêu hóa không rõ nguyên nhân. Những phân loại gần đây chia xuất huyết tiêu hóa thành 3 loại: Xuất huyết tiêu hóa trên, xuất huyết tiêu hóa đoạn giữa và xuất huyết tiêu hóa thấp. Nếu nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa bắt đầu từ bóng Vater đến đoạn cuối của hồi tràng được xác định là xuất huyết tiêu hóa đoạn giữa (2). Vì khó khảo sát nên những trường hợp xuất huyết ruột non thường phải vào viện nhiều lần và truyền máu nhiều lân; do đó việc xác định nguyên nhân và chính xác vị trí chảy máu là rất cần thiết để có những can thiệp phù hợp và hiệu quả.

Tin tức

Ngày xuất bản: 09/01/2026

TÓM TẮT Xuất huyết não sơ sinh (NICP), đặc biệt là xuất huyết vùng mầm/não thất (GMH-IVH), là một trong những biến chứng thần kinh thường gặp nhất và có nguy cơ cao để lại di chứng nghiêm trọng ở trẻ sinh non. Siêu âm xuyên thóp (Transfontanelle Ultrasound - TUS) đã được công nhận là phương tiện chẩn đoán được lựa chọn đầu tay nhờ vào tính không xâm lấn, tính di động cao và khả năng lặp lại. Bài viết này trình bày vai trò thiết yếu của TUS, đặc biệt tập trung vào các phác đồ sàng lọc chuẩn hóa được khuyến nghị bởi các hiệp hội nhi khoa quốc tế (như Hiệp hội Nhi khoa Canada - CPS và các đồng thuận lâm sàng Châu Âu), nhằm tối ưu hóa việc phát hiện sớm và theo dõi tổn thương não ở trẻ non tháng.
'