1. Giới thiệu chung
Cùng với sự phát triển của đánh giá giải phẫu mạch vành một cách chính xác thì việc đánh giá chức năng của mạch vành vẫn liên tục phát triển. Trong đó vai trò của đánh giá MRI tim gắng sức với adenosine giữ vai trò quan trọng trong việc đánh giá thiếu máu cơ tim có ý nghĩa, đánh giá sẹo và cơ tim sống còn dựa vào LGE và đồng thời hướng dẫn điều trị và theo dõi sau tái thông mạch vànhMRI tim gắng sức với adenosine (adenosine stress CMR) có nhiều ưu điểm nổi trội(1):Đánh giá thiếu máu cơ tim, tính sống còn của cơ tim & chức năng tim một cách xuất sắc mà không cần tiếp xúc với tia xạ ion hóa.
MRI tim gắng sức cho thấy độ nhạy chẩn đoán cao hơn so với xạ hình tưới máu cơ tim bằng SPECT/PET trong phát hiện bệnh ĐMV có ý nghĩa (chụp mạch vành).
Chiến lược tái thông mạch vành được hướng dẫn bởi MRI tim gắng sức có hiệu quả tương đương với chiến lược dựa trên đo phân suất dự trữ lưu lượng vành (FFR) xâm lấn ở bệnh nhân có nguy cơ bệnh mạch vành ở mức độ trung bình - cao
MRI tim gắng sức là một ứng dụng có giá trị trong đánh giá gánh nặng thiếu máu và chức năng vi tuần hoàn vành.Đây có thể là một lựa chọn hình ảnh chức năng tối ưu giúp đánh giá và phân tầng bệnh mạch vành mạn, đặc biệt ở bệnh nhân có tình trạng thiếu máu cơ tim ở mức trung gian trên chụp mạch vành
Tin tức
Mặc dù y học tim mạch đã có nhiều tiến bộ, nhưng việc đưa ra quyết định liên quan đến chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị huyết khối thất trái (LV) thường vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt là tỷ lệ đột quỵ do thiếu máu cục bộ hoặc xuất huyết não cao hơn. Chỉ có một số ít khuyến nghị trong hướng dẫn của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA), Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ (ASA) và Trường Cao đẳng Tim mạch Hoa Kỳ (ACC) về huyết khối thất trái và một số khuyến nghị hạn chế trong các hướng dẫn của tổ chức khác và các tài liệu đồng thuận của chuyên gia. Tỷ lệ huyết khối thất trái sau nhồi máu cơ tim ST chênh lên (STEMI) thay đổi rất nhiều trong các báo cáo khác nhau, từ 2.5% đến 15% [1,2], có thể phản ánh nhóm bệnh nhân được nghiên cứu, thời điểm và tần suất sàng lọc, cũng như độ tuổi quan sát, và có thể cao hơn so với báo cáo trong hầu hết các loạt nghiên cứu nếu chụp cộng hưởng từ tim (CMR) được sử dụng thường xuyên. Trong thời đại của điều trị kháng kết tập tiểu cầu kép, sau nhồi máu cơ tim cấp và can thiệp mạch vành, những bệnh nhân nào nên được cân nhắc bổ sung thêm điều trị liệu pháp kháng đông đường uống, đặc biệt là khi tỷ lệ chảy máu tăng lên khi kết hợp liệu pháp kháng đông đường uống và liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép?
Tin tức
Lồng ruột ở người lớn tương đối hiếm gặp so với trẻ em, và trong lồng ruột đại tràng ở người lớn, nguyên nhân chủ yếu là do các khối u ác tính. U mỡ, một khối u hiếm gặp ở đường tiêu hóa, thường hiếm khi gây lồng ruột đại tràng ở người lớn. Chúng tôi trình bày trường hợp một bệnh nhân nữ, 48 tuổi bị đau bụng. Bệnh nhân đến khám với triệu chứng bụng chướng nhẹ kèm theo đau ở vùng bụng thượng vị - hạ sườn phải. Khi khám, phát hiện một khối sờ thấy ở vùng thượng vị lệch phải. Siêu âm có hình ảnh khối lồng ruột vùng thượng vị và khối u tăng âm nằm cạnh khối lồng ruột. Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch cho thấy hình ảnh khối lồng ruột đại tràng do khối u có tỷ trọng mỡ. Phẫu thuật bụng cấp cứu đã được thực hiện. Một khối u được xác định ở giữa đại tràng ngang, dẫn đến quyết định cắt bỏ nửa đại tràng phải có khối u và nối hồi – đại tràng. Kết quả xét nghiệm mô bệnh học xác nhận khối u là u mỡ. Lồng ruột đại tràng ở người lớn do u mỡ tương đối hiếm gặp, chỉ có một vài trường hợp được báo cáo trong tài liệu.
Tin tức
Nghiên cứu trên tạp chí Annals of Laparoscopic and Endoscopic Surgery phân tích các khía cạnh của phẫu thuật cắt bỏ hạch D3 cho ung thư đại tràng phải.Nhóm tác giả: Marcin Włodarczyk, Jakub Włodarczyk, Radzisław Trzciński, Michał Mik, Łukasz Dziki, Adam DzikiNguồn và thời gian đăng báoAnnals of Laparoscopic and Endoscopic Surgery, 2019 (4), 1 – 9.
Ngày đăng: 25 tháng 9 năm 2019.
Doi:21037/ales.2019.09.01
Tin tức
Nghiên cứu mới nhất năm 2025 đăng trên tạp chí nổi tiếng J Gastrointest Ca, trong bối cảnh phẫu thuật xâm lấn tối thiểu ngày càng phát triển cho các khối u vùng chậu tiến triển, việc so sánh giữa kỹ thuật robot đầy hứa hẹn và phương pháp nội soi tiêu chuẩn trong cắt bỏ hạch vùng chậu bên đã trở thành một chủ đề nghiên cứu quan trọng và cần thiết.Nhóm tác giả: Mohamed Ali Chaouch, Paul Leblanc-Even, Ahmed Loghmari, Adriano Carneiro da Costa, Alessandro Mazzotta, Salah Khayat, Bassem Krimi, Amine Gouader, Jim Khan, Christoph Reissfelder, Wahid Fattal, Hani Oweira.Nguồn và thời gian đăng báoJ Gastrointest Cancer. 2025 Jul 15;56(1):151.
Ngày đăng: 15/07/2025
Doi: 10.1007/s12029-025-01251-7.
Tin tức
1. TÓM TẮT
Việc ngừng thuốc chống đông đường uống thế hệ mới (NOAC = Non–Vitamin K Oral Anticoagulant. DOAC = Direct Oral Anticoagulant ) trước phẫu thuật là thách thức quan trọng nhằm cân bằng giữa nguy cơ chảy máu và huyết khối. Báo cáo này được thực hiện nhằm tổng hợp bằng chứng mới nhất về thời điểm ngưng các thuốc NOAC trước phẫu thuật, dựa trên khuyến cáo của AHA/ACC, ESC, EHRA 2023–2024. Các điểm chính bao gồm: (1) thời gian ngưng thuốc phụ thuộc vào loại thuốc, chức năng thận và nguy cơ chảy máu của phẫu thuật; (2) các thuốc ức chế yếu tố Xa (rivaroxaban, apixaban, edoxaban) thường ngưng 24–48 giờ, trong khi dabigatran cần ngưng lâu hơn nếu suy thận; (3) cầu nối bằng heparin không được khuyến cáo thường quy. Bàn luận tập trung vào việc áp dụng hướng dẫn trong bối cảnh thực hành lâm sàng, bao gồm đánh giá nguy cơ cá thể hóa và cách xử trí khi cần phẫu thuật khẩn cấp. Kết luận: Ngưng NOAC cần dựa trên nguy cơ chảy máu và chức năng thận, với khoảng thời gian 24–72 giờ là tối ưu để giảm biến chứng mà không tăng nguy cơ huyết khối.
Tin tức
I. Bối cảnh
Sự ra đời của kháng đông đường uống tác động trực tiếp (DOAC- direct oral anticoagulants) đã mang lại kỷ nguyên mới trong việc quản lý các bệnh huyết khối, với những ưu thế về mặt dược động học cũng như hiệu quả cà độ an toàn so với các thuốc kháng đông kháng vitamin K.1,8 Chính vì vậy, các khuyến cáo lâm sàng hiện nay đều đồng thuận DOAC là lựa chọn đầu tay trong dự phòng đột quỵ trên bệnh nhân rung nhĩ khi không có chống chỉ định của thuốc.9,10 Một trong những câu hỏi lớn liên quan đến các DOAC thường được đưa ra bàn luận tại các diễn đàn khoa học là có hay không có sự khác biệt về hiệu quả và độ an toàn khi so sánh giữa các thuốc kháng đông này. Trong bối cảnh vẫn chưa có các nghiên cứu ngẫu nhiên đối chứng (RCT-Randomized Controlled Trials) so sánh đối đầu trực tiếp giữa các DOAC, nhiều nghiên cứu trên thực tế lâm sàng (RWE- Real World Evidence) đã tiến hành nhằm trả lời một phần cho câu hỏi trên. Tuy nhiên, với những hạn chế liên quan đến phương pháp nghiên cứu và kết quả không đồng nhất giữa các RWE đã làm cho việc nhận định các kết luận đạt được về việc so sánh giữa các DOAC trở nên khó khăn.11,12 Chính vì vậy, cần có những dữ liệu chất lượng cao nhằm so sánh hiệu quả và độ an toàn của các DOAC, từ đó cung cấp những thông tin quan trọng giúp bác sĩ cá thể hóa lựa chọn DOAC phù hợp với từng bệnh nhân.
Tin tức
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá đáp ứng, kết quả sống thêm bước đầu và độc tính điều trị khi áp dụng kĩ thuật xạ trị điều biến liều thể tích cung tròn và nhịn thờ thì hít vào sâu (VMAT-DIBH) trong hóa xạ trị tiền phẫu ung thư thực quản giai đoạn tại chỗ-tại vùngĐối tượng và phương pháp: 35 người bệnh với chẩn đoán ung thư thực quản từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2024 được đưa vào nghiên cứu. Các bệnh nhân này được xạ trị tiền phẫu sử dụng kĩ thuật VMAT-DIBH với liều 41.4-50Gy (trong 23-25 phân liều), kết hợp hoá chất đồng thời. Các dữ liệu lâm sàng và thông số tính liều được thu thập và kiểm định để xác định các yếu tố có giá trị tiên lượng cho đáp ứng, sống thêm và độc tính điều trịKết quả: 33/35 (94.2%) người bệnh hoàn thành phác đồ hoá xạ trị tiền phẫu theo kế hoạch. 30 người bệnh (85.7%) được phẫu thuật cắt thực quản triệt căn và đều đạt diện cắt R0, 46.7% số ca đạt đáp ứng hoàn toàn trên bệnh phẩm sau mổ (pCR). Độc tính cấp liên quan điều trị thường gặp nhất là viêm thực quản (độ ³2: 60%), biến chứng muộn (độ ³2) thường gặp bao gồm hẹp miệng nối (6.7%), viêm phổi xạ trị (2.9%). Với thời gian theo dõi trung bình là 20.4 tháng, sống thêm toàn bộ (OS), sống thêm không bệnh (DFS) và sống thêm không tiến triển tại chỗ-tại vùng (LRPFS) 3 năm lần lượt là: 69.4%, 61.4% và 64.1%. Đạt được đáp ứng bệnh học toàn bộ sau mổ (pCR) là yếu tố tiên lượng tích cực của OS và DFS (p<0.05).Kết luận: Hoá xạ trị tiền phẫu sử dụng kĩ thuật VMAT-DIBH trên người bệnh ung thư thực quản giai đoạn tiến triển tại chỗ-tại vùng cho kết quả đáp ứng tốt, với tỉ lệ độc tính liên quan điều trị được hạn chế ở mức chấp nhận được. Các kết quả về sống thêm sẽ cần số mẫu bệnh nhân lớn và thời gian theo dõi dài hơn để có thể phân tích.
Tin tức
I. Khái niệm
Ung thư trực tràng là một trong những bệnh ung thư phổ biến ở Việt Nam. Theo Gobocan 2022, ung thư đại trực tràng đứng thứ 4 trong các loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam với gần 17.000 ca mắc mới, tăng hơn so với báo cáo Globocan 2020. Đứng thứ 5 về tỷ lệ ca mắc mới và đứng thứ 6 về tỷ lệ tử vong.Điều trị tân bổ trợ toàn bộ (Total Neoadjuvant Therapy- TNT) là liệu pháp sử dụng cả hóa trị tấn công theo sau là hóa xạ trị đồng thời trước phẫu thuật cho ung thư trực tràng trung bình- thấp giai đoạn tiến triển tại chỗ (U giai đoạn T4 hoặc U xâm lấn mạc treo trực tràng, xâm lấn mạch máu ngoài thành (EMVI) hoặc có hạch di căn rõ ràng trên chẩn đoán hình ảnh và u trực tràng thấp), sau khi hoàn thành liệu trình trên, người bệnh sẽ được phẫu thuật và điều trị hóa trị bổ trợ đủ phác đồ.Phương pháp này khác biệt so với phác đồ truyền thống trước kia là chỉ điều trị hóa xạ trị đồng thời trước mổ sau đó phẫu thuật. Phương pháp này được phát triển nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị bằng cách điều trị toàn diện hơn cho bệnh nhân trước phẫu thuật
