MỚI

Yếu tố nguy cơ tim mạch

Ngày xuất bản: 23/04/2023

Bệnh tim mạch thường gặp liên quan đến các yếu tố nguy cơ mang tính hành vi là hút thuốc lá, chế độ ăn và công tác vận động thể lực… Điểm đặc biệt là, các yếu tố nguy cơ thường đi thành đám và kết thúc nhau theo cấp số nhân dẫn đến khả năng bị bệnh và bị bệnh sớm. 

 

Yếu tố nguy cơ tim mạch
                          Yếu tố nguy cơ tim mạch

1. Các yếu tố nguy cơ tim mạch không thay đổi được

  • Tuổi thọ

Tuổi thọ càng cao nguy cơ càng tăng. Ở tuổi 70 trở đi, có đến 15% nam giới và 9% nữ giới mắc bệnh động mạch vành có triệu chứng và tăng lên 20% ở tuổi 80.

  • Giới hạn và trạng thái kinh

Bệnh động mạch vành phổ biến và khởi phát sớm hơn ở nam giới.

Tỷ lệ mắc bệnh mạch vành ở phụ nữ tăng nhanh sau tuổi mãn kinh và ngang bằng với nam giới sau 65 tuổi do vai trò của hormone sinh dục. Dù ít phổ biến hơn nhưng bệnh động mạch vành vẫn là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở phụ nữ.

Tuy nhiên, liệu pháp nội tiết tố thay thế không được quảng cáo trong dự phòng đầu tiên phát hiện xơ vữa động mạch ở phụ nữ sau khi mãn kinh.

  • Tiền sử gia đình ở bệnh nhân có xơ nhẹ động mạch

Tiền sử gia đình là yếu tố quan trọng khi bệnh xơ vữa động mạch xuất hiện ở thế hệ thứ nhất với nam giới trước 55 tuổi và nữ giới trước 65 tuổi.

  • Element type

Tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành theo tuổi ở nhóm người gốc Nam Á cao hơn 50% so với nhóm người da trắng bản địa ở các nước phát triển.

Tỷ lệ mắc bệnh mạch vành thấp hơn ở nhóm người da đen.

Tỷ lệ bệnh mạch vành xu hướng gia tăng sức mạnh ở một số quần thể Đông Á.

2. Các yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi được

  • Căng thẳng tâm lý

Gia tăng căng thẳng trong công việc, ít hỗ trợ xã hội, cuộc sống cô đơn, trầm cảm là yếu tố quan trọng tăng nguy cơ sơ sài động mạch.

  • hút thuốc lá

Hút thuốc lá tăng nguy cơ bệnh tật mạch vành xấp xỉ 50% với tỷ lệ tử vong cao hơn 60% (lên đến 85% trong nhóm người nghiện thuốc lá).

Hút thuốc lá thụ động có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành lên khoảng 25%.

Ngừng hút thuốc lá mang lại nhiều lợi ích và cần làm ở mọi bệnh nhân.

Các biện pháp cai thuốc lá bao gồm liệu pháp tâm lý, thuốc thay thế nicotin hoặc các loại thuốc khác. Những biện pháp này nằm trong một mô hình hệ thống tốt nhất bởi phòng cai nghiện thuốc lá, giúp tăng tỷ lệ loại bỏ thuốc lá cao gấp 4 lần.

  • Béo phì

Chỉ số khối cơ thể (BMI) đóng góp cao vào 25 – 49% bệnh ĐMV ở các nước phát triển. Thừa cân được định nghĩa là chỉ số BMI từ 23 – 24,9 kg/m 2 , béo phì là khi chỉ số BMI ≥ 25 kg/m 2 .

Tỷ lệ béo phì tăng nhanh trên toàn thế giới. Béo trung tâm là tình trạng thừa mỡ ở bụng, được xác định bởi tỷ lệ vòng eo-hông cao và mối có liên quan chặt chẽ tới bệnh động mạch vành nếu vòng eo > 90 cm ở nam và 80 cm ở nữ (Theo ESC 2019) .

Chế độ ăn uống và tập luyện nên xem xét hàng đầu ở nhóm bệnh nhân này, cùng với điều trị bệnh tiêu cực khó chịu đường tuýp 2, THA và rối loạn lipid máu nếu có.

  • Tình trạng viêm

Xơ vữa động mạch bao gồm quá trình viêm liên tục từ lúc bắt đầu hình thành tổn thương, quá trình phát triển đến thời điểm biến cố cấp tính huyết khối.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng dấu ấn viêm, thường được sử dụng nhiều nhất là CRP có giá trị phản phần trong tiên lượng bệnh sơ tán động mạch.

  • Nồng độ CRP dưới 1 mg/L: Nguy cơ biến cố tim mạch thấp
  • Nồng độ CRP 1 – 3 mg/L: Nguy cơ biến cố tim mạch trung bình
  • Nồng độ CRP trên 3 mg/L: Nguy cơ biến cố tim mạch cao

– Các biện pháp điều trị giảm nguy cơ bệnh mạch vành cũng giúp giảm tình trạng viêm như aspirin và statin.

– Tuy nhiên, thuốc kháng viêm nguyên chất chưa chứng minh được vai trò giảm nguy cơ biến chứng bệnh mạch vành.

  • Entrance life at least active

Sự liên quan giữa ít hoạt động thể chất với tử vong do bệnh tim mạch rất khó ước tính, tuy nhiên, những người hoạt động thể chất có nguy cơ mắc bệnh động mạch vành thấp hơn.

Tập thể dục thường xuyên, cường độ vừa phải đến nhiều phải thực hiện ít nhất 5 ngày mỗi tuần, mỗi lần ít nhất 30 phút, nhưng tần suất và thời gian tập luyện lớn hơn có thể tăng lợi ích.

  • Rượu, bia

Người nghiện rượu có liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Nên hạn chế tối đa việc uống rượu, bia, nếu uống thì số lượng chỉ nên ≤ 2 đơn vị/ngày đối với nam và ≤ 1 đơn vị/ngày với nữ và tổng cộng ≤ 14 đơn vị chuẩn/tuần với nam hoặc ≤ 8 đơn vị chuẩn/tuần với nữ. Không uống nhiều vào một thời điểm.

(1 đơn vị chuẩn bị chứa 14 g ethanol tinh khiết tương đương với 354 mL bia (5% ethanol) hoặc 150 mL rượu vang (12% ethanol), hoặc 45 mL rượu mạnh (40%)).

Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh động mạch vành, bệnh động mạch ngoại biên và bệnh mạn tính.

Số đo huyết áp tâm thu chỉ là số đo tiên lượng tốt hơn so với số đo huyết áp tâm thu ở đối tượng bệnh nhân trên 50 tuổi. Tăng huyết áp tâm trương liên quan đến tăng nguy cơ bệnh tim mạch ở nhóm bệnh nhân dưới 50 tuổi.

Điều trị hạ áp đã được chứng minh lợi ích đối với bệnh nhân THA kèm theo bệnh vành.

Đích điều trị THA ở bệnh nhân mắc bệnh mạch vành cần tích cực hơn, tốt nhất dưới 130/80 mmHg.

Tại các bệnh nhân sau đổ máu cơ tim, điều trị sớm bằng thuốc chẹn beta giao cảm, ức chế ghi nhớ chuyển hoặc ức chế thụ thể đã được chứng minh làm giảm nguy cơ tái hoại cơ tim và tử vong.

  • Rối loạn lipid máu

Có một liên quan đến liên tục, bền mối, độc lập giữa nồng độ cholesterol toàn phần (TC) hoặc cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C) với các biến cố tim mạch làm sơ sài.

  • Delication

Đại loại bỏ đường là một trong các yếu tố nguy cơ tim mạch chính của bệnh lý tim mạch làm sơ sài. Đại đường loại bỏ làm tăng 2 lần biến cố tim mạch (bao gồm bệnh lý động mạch vành, tàn phế và tử vong chung liên quan đến bệnh lý mạch máu) và độc lập với các yếu tố nguy cơ khác nhau.

facebook
5

Bài viết liên quan

Thuốc liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia