MỚI
load

Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ – Cập nhật chẩn đoán và điều trị

Ngày xuất bản: 13/02/2026

1. MỞ ĐẦU

Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) là một rối loạn đặc trưng bởi các đợt tắc nghẽn một phần hoặc toàn bộ của đường thở trên lặp đi lặp lại trong khi ngủ, dẫn đến giảm hoặc mất hoàn toàn dòng khí đi vào phổi. Sự tắc nghẽn này gây ra hiện tượng giảm nồng độ oxy trong máu và tỉnh giấc nhiều lần trong đêm (ngay cả khi bạn không nhận thức được từng lần thức giấc đó), dẫn đến chất lượng giấc ngủ kém. Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn có thể gây ra ngáy to, mệt mỏi hoặc không tỉnh táo sau khi thức dậy dù đã ngủ đủ giấc suốt đêm, khó tập trung, buồn ngủ quá mức vào ban ngày và các triệu chứng khác. Nếu không được điều trị, OSA có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng về tim mạch, tâm thần kinh và chuyển hóa, thậm chí có thể gây tử vong ngay trong khi ngủ.

Chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ảnh hưởng đến gần 1 tỷ người trên toàn thế giới, trong đó 425 triệu người trưởng thành từ 30 đến 69 tuổi mắc chứng OSA từ mức độ trung bình đến nặng. Tại Hoa Kỳ, có tới 30% nam giới và tới 17% phụ nữ đáp ứng các tiêu chí chẩn đoán OSA. Theo một báo cáo từ Học viện Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (AASM), hơn 80% người mắc OSA chưa được chẩn đoán. Tỷ lệ OSA chưa được chẩn đoán cao hơn đáng kể ở phụ nữ, những người thuộc các nhóm dân tộc thiểu số và những người sống ở các cộng đồng thu nhập thấp và vùng nông thôn/thiếu thốn dịch vụ. Tại Việt Nam, Tỷ lệ ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA) ước tính khoảng 8.5% dân số, tương đương 4 triệu người, với tỷ lệ nam giới (14%) cao hơn nữ giới (5%), nhưng thực tế còn nhiều người chưa được chẩn đoán (1)

2. NỘI DUNG CHÍNH

1. Các yếu tố nguy cơ gây ngừng thở khi ngủ

Nhiều yếu tố góp phần vào sự phát triển của hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA), bao gồm hẹp đường thở trên do cấu trúc giải phẫu, thay đổi chức năng thần kinh cơ và kiểm soát thông khí bị thay đổi trong khi ngủ. 

Các yếu tố giải phẫu liên quan đến tăng nguy cơ mắc OSA bao gồm:

  • Thừa cân – béo phì
  • Vòng cổ to
  • Phì đại amidan, lưỡi to, xương hàm nhỏ, lệch vách ngăn mũi
  • Nam giới
  • Tuổi trung niên
  • Bệnh nền: tăng huyết áp, bệnh hô hấp mạn tính (hen, bệnh phổi tắc nghẽn), suy tim, rối loạn nhịp tim, tiền sử đột quỵ

Béo phì là một yếu tố nguy cơ chính gây ra hội chứng ngưng thở khi ngủ (OSA) vì mô mỡ tích tụ ở đường hô hấp trên có thể dẫn đến xẹp hầu họng trong khi ngủ. Lượng mỡ bụng tăng cao cũng có thể làm tăng áp lực trong ổ bụng, giảm thể tích phổi và làm giảm độ đàn hồi của thành ngực.  

Nguy cơ mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ cũng tăng theo tuổi tác, một phần do những thay đổi sinh lý như sự thâm nhiễm mỡ ở đường hô hấp trên, nội tạng và cơ. Phản xạ cơ cũng có thể suy giảm theo tuổi tác, khiến bệnh nhân dễ bị xẹp đường thở và giảm khả năng kiểm soát đường thở

2. Triệu chứng và chẩn đoán ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ

Bệnh nhân mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ thường trải qua các triệu chứng trong vài năm trước khi tìm đến bác sĩ và có thể đã phát triển các biến. Các triệu chứng của hội chứng ngưng thở khi ngủ bao gồm

  • Ngáy to
  • Giấc ngủ không yên, bị gián đoạn dẫn đến Ngủ không ngon, thức giấc về đêm, sáng thức dậy mệt mỏi, không tỉnh táo
  • Có cơn ngừng thở được chứng kiến (biểu hiện tiếng ngáy không đều, có khoảng ngừng ngáy sau đó ngáy trở lại)
  • Ngộp thở khi ngủ
  • Tiểu đêm
  • Đau đầu buổi sáng
  • Buồn ngủ ban ngày
  • Giảm tập trung chú ý, giảm trí nhớ dẫn đến giảm năng suất làm việc
  • Tai nạn giao thông do buồn ngủ khi lái xe
  • Thay đổi tâm trạng (như lo lắng, cáu gắt và trầm cảm )
  • Tăng tiết mồ hôi về đêm
  • Giảm ham muốn tình dục và rối loạn chức năng tình dục.

3. Chẩn đoán ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ

Thăm khám

Khi đánh giá ban đầu một bệnh nhân nghi ngờ mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ (OSA), cần khai thác kỹ lưỡng tiền sử bệnh và các triệu chứng của bệnh nhân, đồng thời tiến hành khám thực thể toàn diện. Các phát hiện thường gặp khi khám liên quan đến OSA bao gồm:

  • Béo phì
  • Vòm miệng cứng, cao
  • Chu vi cổ tăng (> 40cm)
  • Sự lệch khớp hàm (như chứng hàm nhỏ và cằm lẹm)
  • Điểm Stop Bang
  • Điểm Epworth
  • Điểm Mallampati cao (loại III hoặc IV)
  • Tăng huyết áp
  • Phì đại amidan.

Thăm dò

Sau khi thăm khám những trường hợp có nguy cơ ngừng thở khi ngủ sẽ được đo đa ký giấc ngủ tại bệnh viện (PSG) hoặc đo đa ký hô hấp tại nhà (HSAT). Mặc dù PSG là thăm dò chẩn đoán tiêu chuẩn cho OSA, HSAT được chỉ cho những bệnh nhân có xác suất mắc OSA từ mức độ trung bình đến nặng và không mắc bệnh phổi nghiêm trọng hoặc các bệnh lý tim mạch, đột quỵ, ….

Các thiết bị đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cho HSAT phải bao gồm tối thiểu các cảm biến sau:

  • Đo cử động hô hấp ngực và bụng
  • Dòng khí qua mũi
  • Đo nồng độ oxy trong máu.
  • Đo đa ký giấc ngủ được ưu tiên hơn HSAT ở những bệnh nhân có một số biến chứng hoặc bệnh lý kèm theo, bao gồm: bệnh nhân nghi ngờ có kèm theo rối loạn giấc ngủ khác ngoài OSA. Hoặc bệnh nhân có các bệnh lý tim mạch và hô hấp nghiêm trọng.
  • Tình trạng giảm thông khí khi thức hoặc nghi ngờ liên quan đến giấc ngủ
  • Lạm dụng opioid mãn tính
  • Tiền sử đột quỵ
  • Suy yếu cơ hô hấp do bệnh lý thần kinh cơ
  • Mất ngủ nghiêm trọng

Phương pháp đo đa ký giấc ngủ cũng được khuyến cáo khi đo HSAT không cho kết quả rõ ràng, cho kết quả âm tính

Chẩn đoán

OSA được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của ICSD3:

– Có > 5 sự kiện hô hấp tắc nghẽn/giờ (tính theo thời gian ngủ với PSG/thời gian ghi với HSAT), với các sự kiện tắc nghẽn chiếm ưu thế (>50%) kèm theo một hoặc nhiều triệu chứng sau:

  • Buồn ngủ, mệt mỏi, mất ngủ.
  • Thức giấc do ngưng thở, thở gấp (thở dồn dập, thở hổn hển).
  • Ngáy, thở gián đoạn hoặc cả hai và được người ngủ cùng chứng kiến.
  • Có liên quan đến các tình trạng như rối loạn khí sắc, rối loạn nhận thức, tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, đột quỵ, suy tim sung huyết, rung nhĩ hoặc đái tháo đường týp 2. Hoặc
  • Có > 15 sự kiện hô hấp tắc nghẽn/giờ (tính theo thời gian ngủ với PSG/thời gian ghi với HSAT), bất kể sự hiện diện của các triệu chứng liên quan hoặc bệnh đi kèm.
  • Phân mức độ nặng OSA ở người trưởng thành:
  • Nhẹ: Có từ 5 đến 15 sự kiện hô hấp mỗi giờ ngủ.
  • Trung bình: Có từ 15 đến 30 sự kiện hô hấp mỗi giờ ngủ.
  • Nặng: Lớn hơn 30 sự kiện hô hấp mỗi giờ ngủ và/hoặc độ bão hòa oxy dưới 90% trong hơn 20% tổng thời gian ngủ.

4. Điều trị

4.1. Thở máy áp lực dương

Thở máy áp lực dương liên tục (CPAP: continuous positive airway pressure) là chọn lựa hàng đầu để điều trị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA). Hiệu quả điều trị của máy thở áp lực dương làm giảm chỉ số ngưng thở – giảm thở (AHI) cũng như cải thiện triệu chứng về đêm và ban ngày của bệnh nhân OSA được chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Có rất nhiều phương thức thở máy áp lực dương điều trị OSA bao gồm: CPAP(1) – Máy thở áp lực dương liên tục, APAP (2) – Máy thở áp lực dương tự động, Bilevel PAP (2) – Máy thở áp lực dương hai mức, ASV -Thông khí hỗ trợ thích ứng, VAPS – Thông khí hỗ trợ áp lực đảm bảo thể tích

Chỉ định:

– AHI ≥ 15/giờ hoặc
– 5/giờ ≤ AHI ≤ 14/giờ kết hợp với

  • Triệu chứng buồn ngủ ngày quá mức, giảm nhận thức, rối loạn cảm xúc, hoặc mất ngủ hoặc
  • Bệnh lý đồng mắc: Tăng huyết áp hoặc bệnh mạch vành hoặc tiền sử bị đột quỵ.

– Chọn lựa một trong các loại máy tùy vào bệnh lý của bệnh nhân: CPAP, APAP, BPAP, AVAPS, ASV
– Một số trường hợp bệnh nhân cần thở máy tại bệnh viện 1 đêm để bác sĩ xác định cài đặt máy thở tối ưu cho điều trị (định chuẩn áp lực)

4.2. Phẫu thuật

Điều trị các nguyên nhân liên quan đến vùng hầu họng bao gồm việc xem xét cấu trúc giải phẫu của mũi, vòm miệng, lưỡi và hàm cần cá thể hóa các đặc điểm giải phẫu cá nhân. Đánh giá các bất thường giải phẫu đường hô hấp trên (mũi, vòm miệng, lưỡi, amidan và hàm) có khả năng phẫu thuật chỉnh sửa được.

Mục đích là giảm thiểu các trở ngại dẫn đến tắc nghẽn, cho sự lưu thông không khí tự do trong các giai đoạn hô hấp, đặc biệt là ở tư thế nằm ngửa, trong đó các mô mềm ở phía sau miệng và hầu họng có xu hướng bị xẹp xuống. Hiệu quả của phẫu thuật thay đổi đối với từng bệnh nhân cụ thể. Phẫu thuật được khuyến cáo cho bệnh nhân OSA mức độ nhẹ đến trung bình và có bất thường giải phẫu,cấn đánh giá lại hiệu quả điều trị bằng đo PSG sau phẫu thuật

Các phương pháp phẫu thuật bao gồm cắt bỏ cuốn mũi và amidan khẩu cái và amidan vòm họng, phẫu thuật tạo hình họng và phẫu thuật chỉnh sửa phần sau của lưỡi.

Phẫu thuật mở rộng họng bên, còn gọi là phẫu thuật mở rộng cơ vòng, thường được thực hiện ở những bệnh nhân có họng hẹp hoặc dính liền vòm họng sau. Trong trường hợp có amidan lớn kèm theo, đặc biệt là amidan lưỡi, cần phải cắt bỏ amidan.

Trường hợp có vòm miệng mềm và lưỡi gà dài, phẫu thuật tạo hình chữ Z ở vòm miệng có thể làm ngắn vòm miệng và tránh rung động, đồng thời ngăn ngừa sự thu hẹp vòm miệng mềm trong quá trình lành thương.

Phẫu thuật thu nhỏ lưỡi cũng có thể cải thiện luồng không khí và khả năng thở trong trường hợp lưỡi to. Khi cấu trúc giải phẫu của lưỡi gây tắc nghẽn đáng kể, phẫu thuật cố định xương móng (thyrohyoidopexy) có thể hữu ích bằng cách định vị lại xương móng và kéo lưỡi cùng nắp thanh quản xuống và ra phía trước. Kỹ thuật này cho phép phục hồi trong vòng vài ngày, giảm đáng kể thời gian hồi phục vài tuần thường thấy với các phương pháp khác

Cơ lưỡi (genioglossus muscle), bám vào mặt dưới cằm và đẩy lưỡi về phía trước khi co lại, cũng có thể được phẫu thuật kéo dài trong trường hợp ngưng thở khi ngủ mức độ trung bình. Tuy nhiên, khi ngưng thở khi ngủ nghiêm trọng hơn, phẫu thuật kéo dài xương hàm trên và hàm dưới (maxillomandibular advancement – MMA) có thể dẫn đến sự mở rộng đáng kể đường thở và do đó giải quyết vấn đề triệt để hơn.

4.3. Dụng cụ miệng

Bao gồm dụng cụ đẩy hàm dưới (Mandibular Advancement DeviceMAD), dụng cụ giữ lưỡi (tongue-retaining device -TRD).

Mục đích: kéo hàm và lưỡi ra trước, tạo thêm không gian ở phía sau cổ họng để không khí có thể lưu thông.

4.4. Liệu pháp thay thế

Có thể được sử dụng nếu ngừng thở liên quan đến tư thế nằm ngửa (không có ngừng thở hoặc ngừng thở rất nhẹ ở tư thế nằm nghiêng). Các liệu pháp tư thế thường dùng: sử dụng gối hỗ trợ nằm nghiêng, thiết bị rung chống nằm ngửa.

4.5. Kích thích hạ thiệt

Là phương pháp điều trị chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) bằng cách cấy ghép thiết bị kích hoạt dây thần kinh điều khiển lưỡi (một máy phát nhỏ được cấy vào thành ngực), giúp lưỡi di chuyển về phía trước, giữ đường thở thông thoáng khi ngủ và ngăn chặn tình trạng ngưng thở. Phương pháp này dành cho bệnh nhân OSA từ trung bình đến nặng không đáp ứng hoặc không dung nạp được CPAP, hoạt động bằng cách gửi xung điện nhẹ đồng bộ với nhịp thở, mở rộng đường thở trên trong khi ngủ. Tuy nhiên phương pháp này hiện chưa phổ biến tại Việt Nam.

4.6. Điều trị thuốc

Các chất chủ vận thụ thể peptide giống glucagon-1 (GLP-1) (GLP-1ras): Nhờ tác dụng ức chế sự thèm ăn và glucagon trong việc giảm cân và kiểm soát đường huyết, nhóm thuốc này đã đạt được vai trò điều trị quan trọng ở những người béo phì và mắc bệnh tiểu đường loại 2. Nhờ hiệu quả chống lại các biến chứng tiểu đường liên quan đến rối loạn chức năng nội mô và hầu hết các biến chứng tim mạch liên quan đến hội chứng ngưng thở khi ngủ, bao gồm tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, suy tim, nhồi máu cơ tim cấp tính

Tirzepatide, là một chất đồng chủ vận thụ thể kép của GLP-1 và GIP (polypeptide ức chế dạ dày/polypeptide kích thích tiết insulin phụ thuộc glucose) được dùng như một loại thuốc để kiểm soát đường huyết hiệu quả và thúc đẩy giảm cân bằng cách tăng tiết insulin, giảm đường gan và làm chậm tiêu hóa.

4.7. Các biện pháp khác

  • Giảm cân (ít nhất 10% trọng lượng cơ thể đối với NB thừa cân, béo phì).
  • Tập các bài tập làm tăng sức mạnh cơ đường hô hấp trên.
  • Tránh uống rượu bia trước giờ đi ngủ 6 giờ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Newsom R. Obstructive sleep apnea. Sleep Foundation. Updated July 14, 2025. Accessed October 1, 2025. https://www.sleepfoundation.org/sleep-apnea/obstructive-sleep-apnea
  2. Obstructive sleep apnoea. NHS Inform. Updated December 5, 2024. Accessed October 1, 2025. https://www.nhsinform.scot/illnesses-and-conditions/lungs-and-airways/obstructive-sleep-apnoea/
  3. Abbasi A, Gupta SS, Sabharwal N, et al. A comprehensive review of obstructive sleep apnea. Sleep Sci. 2021;14(2):142-154. doi:10.5935/1984-0063.20200056 
  4. Slowik JM, Sankari A, Collen JF. Obstructive sleep apnea. StatPearls. Updated March 4, 2025. Accessed October 1, 2025. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK459252/
  5. Boers E, Barrett MA, Benjafield AV, et al. Projecting the 30-year burden of obstructive sleep apnoea in the USA: A prospective modelling study. Lancet Respir Med. 2025;S2213-2600(25)00243-7. doi:10.1016/S2213-2600(25)00243-7
  6. Kendzerska T, Keys E, Johnson DA. Why sleep apnea deserves priority in public health: A call to action. Eur J Public Health. 2025;35(4):596-597. doi:10.1093/eurpub/ckaf092
  7. Meyer EJ, Wittert GA. Approach the patient with obstructive sleep apnea and obesity. J Clin Endocrinol Metab. 2024;109(3):e1267-e1279. doi:10.1210/clinem/dgad 572
  8. Lv R, Liu X, Zhang Y, et al. Pathophysiological mechanisms and therapeutic approaches in obstructive sleep apnea syndrome. Sig Transduct Target Ther. 2023;8(1):218. doi:10.1038/s41392-023-01496-3
  9. Patil SP, Ayappa IA, Caples SM, et al. Treatment of adult obstructive sleep apnea with positive airway pressure: An American Academy of Sleep Medicine clinical practice guideline. J Clin Sleep Med. 2019;15(2):335-343. doi:10.5664/jcsm.7640
  10. FDA approves first medication for obstructive sleep apnea. US Food and Drug Administration. December 20, 2024. Accessed October 1, 2025. https://www.fda.gov/news-events/press-announcements/fda-approves-first-medication-obstructive-sleep-apnea
  11. Malhotra A, Grunstein RR, Fietze I, et al. Tirzepatide for the treatment of obstructive sleep apnea and obesity. N Engl J Med. 2024;391(13):1193-1205. doi:10.1056/NEJMoa2404881
  12. Duong-Quy S, Dang Thi Mai K, et. Study about the prevalence of the obstructive sleep apnoea syndrome in Vietnam. Rev Mal Respir. 2018 Jan;35(1):14-24.

Tác giả: ThS. BSCKII Nguyễn Mạnh Tường – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

facebook
4

Bình luận 0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia