Cập nhật guidelines ASRA PM 2025 về gây tê thần kinh trên bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông
Biến chứng xuất huyết có thể xảy ra sau bất kỳ kỹ thuật gây tê thần kinh nào: gây tê trục thần kinh (tủy sống hoặc ngoài màng cứng), gây tê đám rối, gây tê thần kinh ngoại vi. Khi chảy máu xảy ra ở các vị trí cố định, không thể băng ép như khoang ngoài màng cứng hoặc khoang cơ thắt lưng, có thể dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng.
Với sự phát triển và sự thay đổi các tiêu chuẩn phòng ngừa huyết khối tắc mạch quanh phẫu thuật, cũng như sự ra đời của các loại thuốc chống đông máu ngày càng có hiệu lực cao hơn, đã dẫn đến những lo ngại về nguy cơ chảy máu sau khi gây tê thần kinh. Để ứng phó với những vấn đề an toàn bệnh nhân đang diễn ra này, Hiệp hội Gây tê Vùng và Y học Đau Mỹ ASRA PM (American Society of Regional Anesthesia and Pain Medicine) đã có guidelines 2025 hướng dẫn quản lý gây tê thần kinh trên những bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông, nội dung được sắp xếp lại và cô đọng đáng kể so với 4 guidelines trước. Đây là một bước tiến đáng kể, cung cấp cho bác sĩ lâm sàng một kế hoạch tối ưu hơn giúp tăng cường sự an toàn, giảm nguy cơ chảy máu quanh phẫu thuật đồng thời duy trì hiệu quả dự phòng huyết khối, cải thiện kết quả điều trị.
Hướng dẫn của ASRA 2025 có một số cập nhật quan trọng, bao gồm:
- Chuyển đổi từ thuật ngữ “dự phòng” và “điều trị” sang phân loại thuốc chống đông máu “liều thấp” và “liều cao” giúp hướng dẫn ASRA PM phù hợp hơn với các tiêu chuẩn quốc tế khác (ESAIC/ESRA), tạo điều kiện thuận lợi cho áp dụng lâm sàng. Tùy thuộc vào chỉ định, liều “dự phòng” có thể được xem là liều “điều trị”. Ví dụ, cùng một “liều cao” có thể được sử dụng cho một bệnh nhân để điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu và cho một bệnh nhân khác để “dự phòng” huyết khối tĩnh mạch sâu tái phát. Ngoài ra, sự suy giảm chức năng thận, nhẹ cân, tuổi cao, sử dụng đồng thời các thuốc ức chế glycoprotein IIb/IIIa cũng có thể khiến liều “dự phòng” trở thành “liều cao”.
- Khuyến cáo dựa trên dược động học (đặc biệt là thời gian bán thải) để xác định khoảng thời gian ngừng thuốc an toàn trước khi thực hiện các thủ thuật gây tê. Các mốc thời gian ngừng thuốc được cá nhân hóa dựa trên loại thuốc, liều dùng, chức năng thận, tuổi, cân nặng và nguy cơ huyết khối cụ thể của từng bệnh nhân.
- Việc sử dụng thuốc đảo ngược tác dụng của thuốc chống đông đường uống DOAC (reversal agents) không được khuyến cáo thường quy chỉ để thực hiện gây tê vùng, nhưng có thể cân nhắc trong tình huống khẩn cấp cần phẫu thuật.
- Ngoài ra, có thêm khuyến cáo về theo dõi xét nghiệm: ngưỡng nồng độ DOAC huyết tương < 30 ng/mL , nồng độ anti-Xa huyết tương ≤ 0.1 IU/ml được xem là chấp nhận trước khi thực hiện thủ thuật nguy cơ cao
- Thuốc thảo dược: không bắt buộc ngừng hoặc trì hoãn gây tê, nhưng cần lưu ý khả năng tương tác, đặc biệt khi dùng cùng các thuốc chống đông khác
- Quản lý catheter: nguy cơ khi đặt và rút catheter là tương đương, cần tuân thủ khoảng thời gian chờ khi rút catheter.
- Các phong bế thần kinh ngoại biên sâu/không ép được nên tuân theo hướng dẫn như gây tê trục thần kinh. Các phong bế thần kinh nông/ép được có thể linh hoạt hơn.
- Theo dõi các dấu hiệu thần kinh sau thủ thuật là biện pháp then chốt giúp phát hiện và xử trí sớm biến chứng.
- Đối với sản phụ: khuyến cáo nhìn chung tương tự người không mang thai, nhưng nhấn mạnh việc cân nhắc nguy cơ/lợi ích của gây tê trục thần kinh so với gây mê toàn thân trong trường hợp khẩn cấp và cần thảo luận đa chuyên khoa.
Vì không thể thực hiện các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên quy mô lớn để đánh giá một biến chứng xuất huyết hiếm gặp nên khi bằng chứng còn hạn chế, các tác giả tiếp tục duy trì phương pháp tiếp cận “chống xuất huyết” tập trung vào sự an toàn của bệnh nhân và đã đề xuất thời gian ngừng điều trị thuốc chống đông trước khi phong bế thần kinh được tóm tắt trong bảng bên dưới. Các thông tin cập nhật mới được in chữ nghiêng màu xanh dương.
Thuốc kháng đông | Khoảng cách liều cuối -> đặt/rút catheter | Khoảng cách đặt/rút catheter -> liều tiếp theo | Ghi chú |
| Thuốc ức chế yếu tố Xa đường uống | – Có thể gây tê tủy sống hoặc đặt/rút catheter nếu: nồng độ DOACs huyết tương < 30 ng/mL hoặc nồng độ kháng yếu tố Xa huyết tương ≤ 0,1 IU/mL | ||
Rivaroxaban (IIC) | Liều cao (15 mg 1 à2 lần/ ngày hoặc 20 mg 1 lần/ ngày) | FDA: đặt/rút catheter sau liều cuối: | |
| 72 giờ | – Đặt/rút catheter 24 giờ trước khi tiêm liều đầu tiên | ||
| Liều thấp (2,5 mg x 2 lần/ngày hoặc 10 mg x 1 lần/ngày) | |||
24 giờ | – Đặt/rút catheter 6 giờ trước khi tiêm liều đầu tiên sau mổ | ||
Apixaban (IIC) | Liều cao: 5 -10 mg 2 lần/ ngày hoặc 2,5 mg x 2 lần/ngày ở BN có ≥ 2 yếu tố: tuổi 80, < 60 kg, creatinin máu ≥ 1,5 mg/dL | FDA: – Đặt/rút catheter ≥24 giờ sau liều cuối cùng. | |
| 72 giờ hoặc đo nồng độ apixaban huyết tương hoặc nồng độ kháng yếu tố Xa | – Đặt/rút catheter 24 giờ trước khi tiêm liều đầu tiên sau mổ | ||
| Liều thấp (2,5 mg x 2 lần/ngày) | |||
| 36 giờ hoặc đo nồng độ apixaban huyết tương hoặc nồng độ kháng yếu tố Xa | Đặt/rút catheter 6 giờ trước khi tiêm liều đầu tiên sau mổ | ||
Edoxaban (IIC) | 72 giờ hoặc đo nồng độ edoxaban huyết tương hoặc nồng độ kháng yếu tố Xa | Đặt/rút catheter 24 giờ trước khi tiêm liều đầu tiên sau mổ | FDA: |
| Chất ức chế thrombin trực tiếp | |||
Dabigatran (IIC)
| Liều cao (75 – 150 mg, ngày 2 lần) | – Có thể gây tê trục thần kinh/rút catheter nếu nồng độ dabigatran <30 ng/mL | |
CrCl > 50 ml/phút :72 giờ | – Đặt/rút catheter 24 giờ trước khi tiêm liều đầu tiên sau mổ | ||
| Liều thấp (110 – 220 mg một lần/ngày) | |||
| 48 giờ | – Đặt/rút catheter 6 giờ trước khi tiêm liều đầu tiên sau mổ. | ||
Argatroban | Tránh gây tê trục thần kinh (IIC) | ||
Heparin không phân đoạn | Khi dùng heparin > 4 ngày: phải kiểm tra số lượng tiểu cầu (nguy cơ HIT) IB | ||
Tiêm tĩnh mạch (IA) | 4 – 6 giờ và aPTT bình thường | 1 giờ | Tiêm khó/có máu: tăng nguy cơ chảy máu khi tiêm liều tiếp theo |
TDD liều thấp | 4 – 6 giờ hoặc aPTT bình thường | ||
TDD liều cao: | 12 giờ và aPTT bình thường | ||
TDD > 10.000 UI/lần | 24 giờ và aPTT bình thường | ||
Heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) | Trì hoãn LMWH 24 giờ sau khi đặt vòng tránh thai gây chấn thương. | ||
TDD liều cao | ≥ 24 giờ | Đặt/rút catheter trước khi tiêm liều đầu tiên sau mổ | |
TDD liều thấp | ≥ 12 giờ | Liều đầu tiên ≥12 giờ sau thủ thuật trục thần kinh. Liều tiếp theo ≥ 24 giờ sau liều đầu tiên | Có thể duy trì catheter ngoài màng cứng với liều một lần mỗi ngày mà không cần dùng bất kỳ loại thuốc chống đông máu nào khá |
Fondaparinux (IIC)
| Liều cao (5 – 10 mg /ngày) | Đặt/rút catheter 6 giờ trước khi tiêm liều đầu tiên sau mổ | – Có thể gây tê trục thần kinh hoặc rút catheter nếu nồng độ kháng thể chống yếu tố Xa fondaparinux ≤ 0,1 IU/mL |
Chức năng thận bình thường | |||
| Liều thấp (2,5 mg/ ngày) | |||
Chức năng thận bình thường | |||
Warfarin | 4-5 ngày và INR bình thường. | Một số BN cần chống đông bắc cầu. | |
| Thuốc chống tiểu cầu | |||
Thuốc chẹn thụ thể P2Y12 tiểu cầu | |||
Clopidogrel | 5 đến 7 ngày | Không có liều tải: Ngay lập tức | Có thể duy trì catheter thần kinh trong 1 hoặc 2 ngày nếu không tiêm liều tải. |
Prasugrel | 7 đến 10 ngày | Không có liều tải: Ngay lập tức | Không nên duy trì catheter thần kinh sau khi dùng prasugrel. |
Ticlopidine | 10 ngày | Không có liều tải: Ngay lập tức | Có thể duy trì catheter thần kinh trong 1 hoặc 2 ngày nếu không tiêm liều tải. |
Ticagrelor | 5 ngày | Không có liều tải: Ngay lập tức | Không nên duy trì catheter thần kinh sau khi dùng ticagrelor. |
Cangrelor | 3 giờ | Đặt/rút catheter 8 giờ trước khi tiêm liều đầu tiên sau mổ | |
Thuốc ức chế tiểu cầu | Chống chỉ định trong 4 tuần sau mổ. | ||
Tirofiban | 4 đến 8 giờ |
|
|
Eptifibatide | 4 đến 8 giờ |
|
|
Abciximab | 24 đến 48 giờ |
|
|
Cilostazol | 48 giờ | Đặt/rút catheter ≥ 6 giờ trước liều đầu |
|
Dipyridamole | 24 giờ | Đặt/rút catheter ≥6 giờ trước liều đầu |
|
Aspirin | Có thể tiếp tục | Có thể tiếp tục | Ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu. |
NSAID | Có thể tiếp tục | Có thể tiếp tục | Tác dụng lên chức năng tiểu cầu. |
Thuốc tiêu sợi huyết | ≥ 48 giờ | Đo Fibrinogen trước khi rút catheter. |
|
Thảo dược (tỏi, bạch quả, nhân sâm) | Có thể tiếp tục | Có thể tiếp tục | Sử dụng đồng thời với các thuốc chống đông khác có thể làm tăng nguy cơ chảy máu. |
Tài liệu tham khảo
- Kopp SL, Vandermeulen E, McBane RD, Perlas A, Leffert L, Horlocker TT. Regional anesthesia in the patient receiving antithrombotic or thrombolytic therapy: American Society of Regional Anesthesia and Pain Medicine Evidence-Based Guidelines (fifth edition). Reg Anesth Pain Med. 2025 Jan;50(1)
- Kietaibl S, Ferrandis R, Godier A, et al. Regional anaesthesia in patients on antithrombotic drugs: Joint ESAIC/ESRA guidelines. Eur J Anaesthesiol. 2022;39(2):100–132.
- Horlocker TT, Vandermeulen E, Kopp SL, et al. Regional anesthesia in the patient receiving antithrombotic or thrombolytic therapy: American Society of Regional Anesthesia and Pain Medicine Evidence-Based Guidelines (fourth edition). Reg Anesth Pain Med. 2018 Jul;43(5):566–573
Tác giả: BSCKI. Trần Thị Ánh Hiền – Khoa Gây mê giảm đau – Bệnh viện Vinmec Central Park

