MỚI
load

Tình trạng sơ sinh trong phẫu thuật mổ lấy thai dưới gây tê vùng so với gây mê toàn thân: phân tích gộp các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng

Ngày xuất bản: 05/03/2026

Sinh mổ chiếm khoảng một phần ba số ca sinh ở Hoa Kỳ. Việc lựa chọn kỹ thuật gây tê/gây mê  trong phẫu thuật mổ lấy thai đóng vai trò quan trọng đối với cả kết quả sức khỏe của mẹ và trẻ sơ sinh.

Một nghiên cứu phân tích gộp năm 2026 được công bố trên tạp chí Anesthesiology đã đánh giá tình trạng sơ sinh sau khi gây tê vùng so với gây mê toàn thân trong phẫu thuật mổ lấy thai khi phân tích 36 thử nghiệm ngẫu nhiên liên quan đến 3.456 trẻ sơ sinh.

1. Tổng quan về nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một đánh giá có hệ thống và phân tích gộp các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng được công bố từ tháng 1 năm 1994 đến tháng 11 năm 2023.

Dân số nghiên cứu bao gồm:

  • 36 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCTs)
  • 456 trẻ sơ sinh
  • 476 sản phụ được gây mê toàn thân (42,7%)
  • 980 sản phụ được gây tê vùng (57,3%)
  • Gây tê tủy sống: 63,6%
  • Gây tê ngoài màng cứng: 28,3%
  • Gây tê tủy sống kết hợp ngoài màng cứng (CSE): 8,1%

Hầu hết các thử nghiệm bao gồm các ca sinh mổ theo kế hoạch hoặc có nguy cơ thấp. Một nhóm nhỏ hơn các trường hợp thai kỳ nguy cơ cao bao gồm tiền sản giật và suy thai.

Gây tê vùng khác với gây mê toàn thân như thế nào?

– Gây tê vùng: Gây tê vùng bao gồm

  • Gây tê tủy sống
  • Gây tê ngoài màng cứng
  • Gây tê tủy sống kết hợp ngoài màng cứng

Các kỹ thuật này ức chế dẫn truyền cảm giác đau ở cấp độ thần kinh trung ương, cho phép người mẹ vẫn tỉnh táo trong khi phẫu thuật.

– Gây mê toàn thân: Gây mê toàn thân liên quan đến

  • Thuốc mê đường tĩnh mạch
  • Thuốc dãn cơ
  • Đặt nội khí quản
  • Thuốc duy trì mê dạng bốc hơi hoặc tĩnh mạch

Thuốc mê toàn thân có thể đi qua nhau thai và ảnh hưởng tạm thời đến điều hòa và trương lực hô hấp trẻ sơ sinh.

Kết quả tình trạng sơ sinh

Nghiên cứu đã đánh giá một số mục tiêu có ý nghĩa lâm sàng:

Mục tiêu chính

  • Điểm Apgar lúc 1 phút
  • Điểm Apgar sau 5 phút

Mục tiêu phụ

  • Nhu cầu hỗ trợ hô hấp cho trẻ sơ sinh
  • Nhập vào đơn vị chăm sóc tích cực sơ sinh (NICU)

Các mục tiêu nghiên cứu khác

  • Điểm Apgar < 7
  • Độ pH động mạch và tĩnh mạch rốn
  • Độ pH động mạch rốn < 7,2
  • Thiếu hụt kiềm > 16
  • Điểm đánh giá khả năng kích thích thần kinh và đáp ứng sau 2 và 24 giờ.

Những phát hiện chính

  1. Điểm Apgar: Gây tê vùng có liên quan đến:
  • Điểm Apgar cao hơn ở phút thứ nhất: Chênh lệch trung bình: +0,58 điểm,

khoảng tin cậy CI 95%: 0,36 – 0,79, p < 0,001

  • Điểm Apgar cao hơn sau 5 phút: Chênh lệch trung bình: +0,09 điểm, 95% CI: 0,05 – 0,13, p< 0,001

Mặc dù có ý nghĩa thống kê, nhưng sự khác biệt này có biên độ nhỏ.

  1. Nhu cầu hỗ trợ hô hấp:

Trẻ sinh mổ dưới gây tê vùng ít có khả năng cần hỗ trợ hô hấp với tỷ lệ rủi ro RR: 0,62, 95% CI: 0,40 – 0,94, p= 0,03

Hỗ trợ hô hấp bao gồm:

  • Thở oxy qua mask mặt
  • Thông khí bằng bóng mask
  • Đặt nội khí quản
  • Thở máy
  1. Nhập NICU

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với RR: 0,75, 95% CI: 0,46 – 1,21, p = 0,24

Khoảng tin cậy khá rộng, giới hạn việc đưa ra kết luận chắc chắn.

  1. Điểm Apgar thấp <7
  • Giảm tỷ lệ Apgar <7 trong vòng 1 phút nhờ gây tê vùng.
  • Không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê sau 5 phút.
  1. Trạng thái cân bằng axit-bazơ

Không có sự khác biệt đáng kể nào được ghi nhận ở

  • pH máu động mạch rốn
  • pH máu tĩnh mạch rốn
  • pH máu động mạch rốn < 7,2

Cơ chế sinh lý

Việc hiểu rõ  cơ chế giúp hiểu đúng các biểu hiện.

Tác dụng của gây mê toàn thân

  • Sự truyền qua nhau thai của các thuốc mê
  • Nguy cơ suy hô hấp sơ sinh
  • Giãn mạch máu thai nhi
  • Giảm sức cản mạch máu toàn thân

Tác dụng của gây tê vùng

  • Ức chế thần kinh giao cảm
  • Hạ huyết áp ở mẹ
  • Nguy cơ giảm lưu lượng máu tử cung-nhau thai

Tuy nhiên, thực hành gây mê sản khoa hiện đại chủ động quản lý tình trạng hạ huyết áp ở sản phụ bằng cách sử dụng thuốc co mạch và truyền dịch.

Phân tích dưới nhóm

Thai kỳ nguy cơ thấp so với thai kỳ nguy cơ cao

  • Sự khác biệt về điểm Apgar sau 5 phút rõ rệt hơn ở nhóm nguy cơ thấp.
  • Sự khác biệt về hỗ trợ hô hấp thể hiện rõ hơn ở các nhóm có nguy cơ cao.

Theo loại gây tê vùng

  • Gây tê tủy sống cho thấy sự khác biệt đáng kể về điểm Apgar và hỗ trợ hô hấp.
  • Kết quả khi gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống không nhất quán.

Những phát hiện  này có thể do kích thước mẫu còn hạn chế hơn là sự khác biệt sinh lý thực sự.

Ý nghĩa lâm sàng

Đối với bác sĩ gây mê

  • Gây tê vùng vẫn là kỹ thuật được ưu tiên cho hầu hết các ca sinh mổ.
  • Gây mê toàn thân vẫn phù hợp trong các trường hợp sau:
  • Xuất huyết nghiêm trọng
  • Rối loạn đông máu
  • Sự bất ổn của người mẹ
  • Tình trạng thai nhi nguy kịch
  • Sự khác biệt về điểm Apgar là nhỏ và có thể không có ý nghĩa lâm sàng.

Đối với bác sĩ sản khoa

  • Lập kế hoạch đa chuyên ngành từ sớm sẽ cải thiện kết quả.
  • Cần có quy trình rõ ràng để xử lý tình trạng suy giảm chức năng thần kinh trung ương.

Đối với bệnh nhân

  • Cả hai kỹ thuật này nhìn chung đều an toàn.
  • Gây tê vùng có thể làm giảm khả năng cần hỗ trợ hô hấp tạm thời cho trẻ sơ sinh.
  • Những khác biệt dài hạn vẫn chưa rõ ràng.

2. Kết luận

Phân tích gộp cập nhật này cho thấy gây tê vùng trong phẫu thuật mổ lấy thai có liên quan đến:

  • Điểm Apgar cao hơn một chút
  • Giảm nhu cầu hỗ trợ hô hấp cho trẻ sơ sinh
  • Không có sự khác biệt về việc nhập NICU.

Mặc dù có ý nghĩa thống kê, nhưng mức độ lợi ích dường như không đáng kể.

Cả hai kỹ thuật gây mê hay gây tê đều phù hợp khi có chỉ định lâm sàng. Quyết định nên được cá nhân hóa dựa trên tình trạng mẹ, tình trạng thai nhi và mức độ khẩn cấp của phẫu thuật.

Cần có thêm các nghiên cứu chất lượng cao hơn để làm rõ kết quả lâu dài tình trạng trẻ sơ sinh và hoàn thiện thực hành gây mê sản khoa.

Tài liệu tham khảo

Nhóm tác giả: Sarah Langer, Grace Lim, Yue Qiu, Jingiuan Biaesch, Mark D. Neuman

Nguồn và thời gian đăng báo: Anesthesiology, tập 144, số 2 (2026):325-336.

Ngày đăng: 02/2026.

DOI: 10.1097/ALN.0000000000005785

Tác giả: BSCK2 Nguyễn Thị Hoài Nam- Bệnh viện Vinmec Central Park.

facebook
0

Bình luận 0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia

tra-cuu-thuoc

THÔNG TIN THUỐC

TRA CỨU NGAY