Khảo sát tỷ lệ tiền đái tháo đường, đái tháo đường và hội chứng chuyển hóa trong dân số khám sức khỏe tổng quát tại Vinmec Phú Quốc năm 2020
Tiền đái tháo đường (TĐTĐ) và đái tháo đường (ĐTĐ) đang gia tăng nhanh ở nhóm dân số trẻ nhưng thường bị bỏ sót, đặc biệt ở người trẻ tuổi. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ rối loạn đường huyết và mối liên quan với hội chứng chuyển hóa (HCCH) trong nhóm người khám sức khỏe tổng quát tại Vinmec Phú Quốc năm 2020. Qua phân tích hồi cứu mô tả cắt ngang trên 1187 hồ sơ, ghi nhận tỷ lệ TĐTĐ là 14,4%, đái tháo đường (ĐTĐ) là 3,0% và tỷ lệ thừa cân/béo phì chiếm tới 74,3%. Có 755 trường hợp có đủ dữ liệu chẩn đoán hội chứng chuyển hóa (HCCH), chiếu tỷ lệ 24,4%. Đáng chú ý, phân tích tương quan cho thấy TĐTĐ làm tăng nguy cơ mắc HCCH gấp 7,9 lần và ĐTĐ làm tăng nguy cơ này gấp 14,1 lần so với nhóm có đường huyết bình thường. Kết quả này nhấn mạnh rằng thấy rối loạn đường huyết xuất hiện phổ biến ngay ở người trẻ thừa cân và có vai trò như chỉ báo sớm của rối loạn chuyển hóa. Tóm lại, tỷ lệ TĐTĐ và ĐTĐ trong quần thể người lao động trẻ tại Phú Quốc là đáng kể, đòi hỏi chiến lược tầm soát định kỳ và can thiệp lối sống tích cực để hạn chế tiến triển thành ĐTĐ và giảm gánh nặng tim mạch – chuyển hóa tại cộng đồng.
Từ khóa: Tiền đái tháo đường, Đái tháo đường, Hội chứng chuyển hóa, Vinmec Phú Quốc.
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Nội dung bài viết
- Trình bày được tỷ lệ TĐTĐ, ĐTĐ và HCCH trong nhóm dân số khám sức khỏe.
- Hiểu được mối liên quan định lượng giữa rối loạn đường huyết và nguy cơ HCCH.
- Áp dụng kiến thức để tăng cường tầm soát và quản lý nguy cơ sớm trong thực hành lâm sàng.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiền đái tháo đường (TĐTĐ) là tình trạng rối loạn chuyển hóa glucose với nồng độ glucose máu cao hơn bình thường nhưng chưa đủ tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (ĐTĐ) [1]. Đây được xem là giai đoạn trung gian quan trọng, bởi khoảng 70% người mắc TĐTĐ sẽ tiến triển thành ĐTĐ thực sự nếu không có can thiệp [3]. Đáng lo ngại hơn, gần 90% người mắc TĐTĐ không nhận biết được tình trạng bệnh của mình do thiếu các triệu chứng lâm sàng rõ rệt [1]. Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỷ lệ TĐTĐ đang có xu hướng gia tăng và thay đổi tùy theo vùng địa lý và đặc điểm dân cư [8]. Bên cạnh nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ type 2, người bệnh TĐTĐ còn đối diện với các biến chứng mạch máu lớn và nhỏ tương tự như bệnh nhân ĐTĐ, đặc biệt là khi đi kèm với hội chứng chuyển hóa (HCCH) – tập hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm béo bụng, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và kháng insulin [4]. Phú Quốc là một thành phố biển đảo đang phát triển nhanh chóng, sự thay đổi về lối sống và mô hình bệnh tật tại đây là một vấn đề đáng quan tâm. Việc phát hiện sớm các rối loạn đường huyết thông qua khám sức khỏe tổng quát đóng vai trò then chốt trong dự phòng cấp 1 và cấp 2. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm: (1) Xác định tỷ lệ tiền đái tháo đường và đái tháo đường trong dân số khám sức khỏe tổng quát năm 2020; (2) Lượng giá nguy cơ hội chứng chuyển hóa trên các đối tượng này.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Báo cáo hàng loạt ca, hồi cứu dữ liệu.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Dân số nghiên cứu bao gồm tất cả hồ sơ khách hàng đã thực hiện khám sức khỏe tổng quát tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2020.
- Tiêu chuẩn chọn mẫu: Hồ sơ có đầy đủ thông tin hành chính, lâm sàng (cân nặng, chiều cao, huyết áp) và cận lâm sàng (Glucose máu đói). Đối với mục tiêu khảo sát HCCH, chọn các hồ sơ có thêm đủ bộ xét nghiệm Lipid máu (Triglyceride, HDL-C).
- Tiêu chuẩn loại trừ: Hồ sơ thiếu các dữ liệu quan trọng nêu trên.
2.3. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Dữ liệu được trích xuất từ phần mềm quản lý bệnh viện. Các biến số bao gồm: Tuổi, Giới, BMI, Huyết áp, Glucose máu đói, Triglyceride, HDL-C.
Định nghĩa các biến số:
- Phân loại Glucose máu (theo ADA):
○ Bình thường: Glucose ≤ 5.5 mmol/L.
○ Tiền đái tháo đường: Glucose 5.6 – 6.9 mmol/L.
○ Đái tháo đường: Glucose ≥ 7.0 mmol/L [2].
- Phân loại BMI (theo WPRO cho người châu Á): Thừa cân khi BMI ≥ 23 kg/m2.
- Hội chứng chuyển hóa: Chẩn đoán theo tiêu chuẩn NCEP-ATP III (cập nhật 2005) khi có ≥ 3/5 tiêu chí [4]:
- Béo bụng (Thay thế bằng BMI ≥ 23 kg/m2 do không có số liệu vòng eo, dựa trên tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa BMI và vòng eo trong các nghiên cứu [4], [5], [6]).
- Huyết áp: ≥ 130/85 mmHg hoặc đang điều trị.
- Glucose máu đói: ≥ 5.6 mmol/L hoặc đang điều trị.
- Triglyceride: ≥ 1.7 mmol/L (150 mg/dL) hoặc đang điều trị.
- HDL-C: < 1.03 mmol/L (nam) hoặc < 1.3 mmol/L (nữ).
2.4. Xử lý thống kê
Số liệu được nhập liệu bằng Excel 2016 và phân tích bằng phần mềm Medcalc. Sử dụng phép kiểm Chi bình phương cho biến định tính và T-test/Mann-Whitney U cho biến định lượng. Giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong năm 2020, chúng tôi thu thập được 1187 hồ sơ thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu.
3.1. Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu
- Tuổi: Tuổi trung bình là 31,2; thấp nhất 20 tuổi, cao nhất 65 tuổi. Nhóm tuổi lao động trẻ (20-39 tuổi) chiếm đa số (89,9%).
- Giới tính: Nam giới chiếm 66% (782 người), nữ giới chiếm 34% (405 người).
- BMI: Tỷ lệ thừa cân và béo phì (BMI ≥ 23) chiếm tỷ lệ rất cao là 74,3% (882/1187). Chỉ có 25,7% có BMI bình thường hoặc nhẹ cân.
3.2. Đặc điểm về Glucose máu
Kết quả khảo sát nồng độ Glucose máu lúc đói trên 1187 đối tượng cho thấy:
- Nhóm đường huyết bình thường (≤ 5.5 mmol/L): 980 người (82,6%).
- Nhóm Tiền đái tháo đường (5.6 – 6.9 mmol/L): 171 người (14,4%).
- Nhóm Đái tháo đường (≥ 7.0 mmol/L): 36 người (3,0%).
3.3. Đặc điểm Hội chứng chuyển hóa (HCCH)
Chúng tôi phân tích trên nhóm 755 bệnh nhân có đầy đủ bộ xét nghiệm Lipid máu để chẩn đoán HCCH.
Bảng 1. Tỷ lệ phân bố các thành tố của HCCH (n=755)
Tiêu chí | Số lượng (n) | Tỷ lệ (%) |
Tăng huyết áp | 380 | 32,0% |
Tăng Glucose máu | 207 207 | 17,4% |
Tăng Triglycerid máu | 458 | 38,6% |
Giảm HDL-C (*) | 202 | 26,8% |
Thừa cân (BMI ≥ 23) | 882* | 74,3% |
(*) Số liệu HDL-C tính trên tổng mẫu n=755. Các tiêu chí còn lại trên tổng mẫu n=1187. | ||
Tỷ lệ mắc Hội chứng chuyển hóa chung trong nhóm khảo sát là 24,4% (184/755 trường hợp).
3.4. Tương quan giữa HCCH và nồng độ Glucose máu
Phân tích mối liên quan giữa các mức rối loạn đường huyết và sự hiện diện của HCCH cho thấy sự gia tăng nguy cơ rất rõ rệt.
Bảng 2. Tương quan giữa HCCH và phân nhóm Glucose máu
Nhóm Glucose | HCCH (+) | HCCH (-) | OR (95% CI) | p |
≤ 5.5 mmol/L (A) | 98 | 518 | 1 (Tham chiếu) | – |
5.6 – 6.9 mmol/L (B) | 70 | 47 | 7,9 | < 0,0001 |
≥ 7.0 mmol/L (C) | 16 | 6 | 14,1 | < 0,0001 |
Kết quả cho thấy nhóm TĐTĐ (B) có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 7,9 lần và nhóm ĐTĐ (C) cao gấp 14,1 lần so với nhóm có đường huyết bình thường (A).
4. BÀN LUẬN
4.1. Về đặc điểm dân số và tỷ lệ mắc bệnh
Dân số nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi trung bình khá trẻ (31,2 tuổi), phản ánh đặc thù của nhóm khách hàng khám sức khỏe doanh nghiệp tại Phú Quốc. Điều này khác biệt so với các nghiên cứu tại bệnh viện tuyến cuối thường tập trung vào nhóm bệnh nhân lớn tuổi và có nhiều bệnh nền hơn [9].
Tỷ lệ thừa cân/béo phì (BMI ≥ 23) trong nghiên cứu lên tới 74,3%, một con số đáng báo động ở lứa tuổi lao động. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với nghiên cứu của Lê Thanh Bình trên đối tượng lớn tuổi (55,9%) [7]. Điều này cho thấy xu hướng “trẻ hóa” của tình trạng thừa cân béo phì và lối sống tĩnh tại ở giới văn phòng/doanh nghiệp.
Tỷ lệ Tiền đái tháo đường ghi nhận là 14,4% và Đái tháo đường là 3,0%. So với nghiên cứu của Nguyễn Vũ Quỳnh Thi tại BVTW Huế (TĐTĐ 24,8%, ĐTĐ 4,4%) [9], tỷ lệ của chúng tôi thấp hơn. Sự chênh lệch này hoàn toàn hợp lý do sự khác biệt về cấu trúc tuổi của mẫu nghiên cứu. Tuy nhiên, với một quần thể trẻ và được xem là “khỏe mạnh” đi khám định kỳ, con số 17,4% có rối loạn đường huyết là một tín hiệu cảnh báo sớm quan trọng.
4.2. Về Hội chứng chuyển hóa
Tỷ lệ HCCH trong nghiên cứu là 24,4%. Chúng tôi ghi nhận sự phổ biến của rối loạn lipid máu dạng tăng Triglyceride (38,6%) và giảm HDL-C (26,8%), phù hợp với mô hình rối loạn lipid máu thường gặp trong HCCH. Việc sử dụng BMI thay thế cho vòng eo trong tiêu chuẩn chẩn đoán là một hạn chế nhưng chấp nhận được trong bối cảnh hồi cứu, và đã được nhiều nghiên cứu chứng minh có sự tương quan chặt chẽ [5], [6].
Kết quả nổi bật nhất trong nghiên cứu là mối tương quan mạnh mẽ giữa mức đường huyết và HCCH. Nguy cơ mắc HCCH tăng vọt từ 7,9 lần ở giai đoạn TĐTĐ lên 14,1 lần ở giai đoạn ĐTĐ. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Rajput R. (2019) khi ghi nhận sự chênh lệch lớn về tỷ lệ HCCH giữa nhóm TĐTĐ và nhóm chứng [10]. Điều này khẳng định rằng, ngay từ giai đoạn TĐTĐ, bệnh nhân đã gánh chịu một gánh nặng rủi ro tim mạch và chuyển hóa rất lớn, chứ không đợi đến khi trở thành đái tháo đường thực sự.
5. KẾT LUẬN
Qua khảo sát 1187 đối tượng khám sức khỏe tổng quát tại Vinmec Phú Quốc năm 2020, chúng tôi rút ra các kết luận sau:
- Tỷ lệ tiền đái tháo đường là 14,4% và tỷ lệ đái tháo đường là 3,0%. Tình trạng thừa cân/béo phì chiếm đa số (74,3%) trong dân số nghiên cứu.
- Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa là 24,4%. Có mối liên quan mật thiết giữa rối loạn đường huyết và hội chứng chuyển hóa: Nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa tăng gấp 7,9 lần ở người tiền đái tháo đường và 14,1 lần ở người đái tháo đường so với người bình thường.
Kiến nghị: Cần tăng cường tư vấn thay đổi lối sống, kiểm soát cân nặng và tầm soát định kỳ các thành tố của hội chứng chuyển hóa cho nhóm đối tượng văn phòng, người lao động trẻ, đặc biệt là những người có chỉ số BMI ≥ 23 kg/m2 hoặc đường huyết ở mức tiền đái tháo đường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Alvarez S, Coffey R, Algotar AM. Prediabetes. In: StatPearls [Internet]. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing; 2021.
- Hostalek U. Global epidemiology of prediabetes – present and future perspectives. Clin Diabetes Endocrinol. 2019;5:5.
- Lawal Y, Bello F, Kaoje YS. Prediabetes Deserves More Attention: A Review. Clin Diabetes. 2020;38(4):328–338.
- Gierach M, Gierach J, Ewertowska M, Arndt A, Junik R. Correlation between Body Mass Index and Waist Circumference in Patients with Metabolic Syndrome. ISRN Endocrinol. 2014;2014:514589.
- Lauria MW, et al. Ability of body mass index to predict abnormal waist circumference: receiving operating characteristics analysis. Diabetol Metab Syndr. 2013;5:74.
- Tran NTT, Blizzard CL, Luong KN, Truong NLV, Tran BQ, Otahal P, et al. The importance of waist circumference and body mass index in cross-sectional relationships with risk of cardiovascular disease in Vietnam. PLoS ONE. 2018;13(5):e0198202.
- Bình LT, Long LĐ. Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân tăng huyết áp có tiền đái tháo đường. Y học thực hành. 2014;905(2).
- Nguyễn Hải Thủy. Cập nhật chẩn đoán và điều trị tiền đái tháo đường. Tạp chí Nội tiết và Đái tháo đường. 2021;46:09-25.
- Nguyễn Vũ Quỳnh Thi và cs. Nghiên cứu tình trạng tiền đái tháo đường chưa được chẩn đoán tại khoa Khám bệnh, BVTW Huế. [Internet]. Hội Nội tiết Huế; 2018.
- Rajput R, Rajput M, Mishra S, Ahlawat P. Prevalence of Metabolic Syndrome in Prediabetes. Metab Syndr Relat Disord. 2019;17(8):406–410.
Tác giả: Lương Võ Quang Đăng, Võ Hà Băng Sương, Vũ Tấn Phúc – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc

