MỚI

Ứng dụng Nine Hole Peg Test trong đánh giá bệnh nhân đột quỵ

Ngày xuất bản: 29/04/2023

Nine Hole Peg Test (NHPT) là một công cụ đánh giá chức năng vận động của bệnh nhân đột quỵ. Đây là một bài kiểm tra đơn giản, có thể thực hiện trong một thời gian ngắn và yêu cầu ít thiết bị, được sử dụng để đánh giá khả năng cầm và đặt đồ vật, khả năng xoay cổ tay và khả năng đưa tay lên và xuống. Ứng dụng của NHPT trong đánh giá bệnh nhân đột quỵ là giúp đánh giá mức độ tổn thương của các cơ quan và chức năng vận động của bệnh nhân sau đột quỵ.

Kỹ thuật Nine Hole Peg Test đánh giá bệnh nhân đột quỵ
Kỹ thuật Nine Hole Peg Test đánh giá bệnh nhân đột quỵ

1. Tổng quan về kỹ thuật Nine Hole Peg Test

Bài kiểm tra Nine Hole Peg Test (NHPT) được phát minh vào những năm 1970 bởi hai nhà nghiên cứu người Canada là R. A. Mathiowetz và M. Weber. Ban đầu, NHPT được sử dụng để đánh giá chức năng vận động của bệnh nhân bị bại não, sau đó nó đã được mở rộng để sử dụng trong các nghiên cứu về bệnh Parkinson và các rối loạn chức năng vận động khác.

NHPT được thiết kế để đánh giá khả năng cầm và đặt đồ vật bằng tay, đặc biệt là khả năng xoay cổ tay và khả năng đưa tay lên và xuống. Bài kiểm tra gồm một tấm bàn có 9 lỗ tròn được sắp xếp thành một hình chữ nhật, mỗi lỗ có đường kính khoảng 1,9 cm. Bài kiểm tra bao gồm việc lấy các viên gạch nhỏ có hình dáng hình trụ, chuyển chúng qua các lỗ và đặt chúng trên một tấm bàn khác.

Trong quá trình thực hiện, người kiểm tra sẽ đánh giá thời gian hoàn thành của bệnh nhân và số lượng lỗi trong quá trình lấy và đặt các viên gạch. Thông thường, NHPT được thực hiện trong khoảng thời gian từ 2-5 phút.

Từ đó, NHPT đã trở thành một công cụ đánh giá phổ biến trong nghiên cứu về các rối loạn chức năng vận động và đặc biệt là trong việc đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị và phục hồi chức năng vận động.

Lượng giá chức năng vận động bàn tay bằng Nine Hole Peg Test là phương pháp đánh giá chức năng vận động tinh vi và phối hợp của bàn ngón tay đ được chuẩn hóa và dễ thực hiện. Ngoài ra có thể đánh giá khả năng phối hợp của tay và mắt và khả năng thực hiện theo mệnh lệnh đơn.

– Ưu điểm:

  • Dụng cụ gọn nhẹ, dễ mang theo, lau rửa được.
  • Dễ thực hiện, thực hiện nhanh trong vòng 5 phút.
  • Độ nhạy cao trong phát hiện các rối loạn chức năng vận động tinh vi bàn tay.
  • Có giá trị trong so sánh kết quả trước và sau điều trị.
  • Cũng được sử dụng như là bài tập cho bàn ngón tay.
  • Kết quả được tham chiếu với giá trị bình thường ở người khỏe mạnh.

2. Chỉ định

  • Tai biến mạch máu não (đột quỵ não).
  • Chấn thương sọ não.
  • Bệnh Parkinson.
  • Tổn thương tủy sống.
  • Xơ cứng rải rác.
  • Bệnh Alzheimer.
  • Viêm não – màng não.
  • Sau các phẫu thuật thần kinh sọ não khác.
  • Các bệnh lý tổn thương não khác.

3. Chống chỉ định

  • Hôn mê, Glasgow < 13 điểm.
  • Người bệnh chưa ngồi dậy được

4 Chuẩn bị

4.1. Người thực hiện

Bác sĩ phục hồi chức năng, kỹ thuật viên hoạt động trị liệu.

4.2. Phương tiện

  • Đồng hồ bấm giây.
  • Bộ dụng cụ tiêu chuẩn.
  • Bảng có 9 lỗ – cách nhau 3,2 cm (1,25 inch) và mỗi lỗ sâu 1.3 cm (0,5 inch).
  • 9 que, đường kính 0,64 cm (0,25 inch) và chiều dài 3,2 cm (1,25 inch).

4.3. Người bệnh

Được giải thích rõ ràng về mục tiêu của việc lượng giá và cách thức tiến hành.

5. Các bước tiến hành

* Bước 1: hướng dẫn người bệnh.

Giải thích: “Đây là một phương pháp lượng giá và tập luyện. Nhặt và cắm lần lượt các que vào lỗ bằng từng tay một. Sau khi cắm hết các que vào 9 lỗ, tiếp tục lại bỏ ra lần lượt. Giữ bộ dụng cụ bằng tay kia. Bác đã sẵn sàng chưa?”

Cắm que lần lượt vào lỗ theo thứ tự hàng ngang, từ ngoài vào trong.

Kỹ thuật viên nói: “Bắt đầu” và bấm thời gian khi người bệnh thực hiện.

Nếu người bệnh chưa hiểu có thể làm mẫu.

* Bước 2: làm thử trước một lần (mỗi bên tay) trước khi tính thời gian.

* Bước 3: tiến hành lượng giá:

  • Làm với tay lành trước.
  • Bấm thời gian khi người bệnh cầm vào que đầu tiên và kết thúc thời gian khi người bệnh rút que cuối cùng và đặt vào khay.
  • Xoay bộ tét ngược lại và lặp lại với tay bệnh.

* Bước 4: ghi lại kết quả khi thực hiện ở từng tay.

Thời gian 30 – 45 phút.

6. Đánh giá kết quả

Khi tiến hành lượng giá, quan sát cách cầm nắm của người bệnh và ghi chú lại.

Nếu người bệnh làm rơi que trong khi đang cắm que vào lỗ, kỹ thuật viên sẽ nhanh chóng đặt lại que trở về vị trí ban đầu.

– Kết quả bình thường

Nam:

  • Tay phải 19.0 +/- 3.2 giây.
  • Tay trái 20.6 +/- 3.9 giây.

Nữ:

  • Tay phải 17.9 +/- 2.8 giây.
  • Tay trái 19.6 +/- 3.4 giây.

Kết quả bình thường theo nhóm tuổi (Mathiowetz và CS 1985)

Tuổi

Bàn tay

Nam giới

Nữ giới

Trung bình (giây)

Độ lệch  (giây)

Trung bình (giây)

Độ lệch (giây)

20 – 24

Phải Trái

16.1

16.8

1.9

2.2

15.8

17.2

2.1

2.4

25 – 29

Phải Trái

16.7

17.7

1.6

1.6

15.8

17.2

2.2

2.1

30 – 34

Phải Trái

17.7

18.7

2.5

2.2

16.3

17.8

1.9

2.0

35 – 39

Phải Trái

17.9

19.4

2.4

3.5

16.4

17.3

1.6

2.0

40 – 44

Phải Trái

17.7

18.9

2.2

2.0

16.8

18.6

2.1

2.8

45 – 49

Phải Trái

18.8

20.4

2.3

2.9

17.3

18.4

2.0

1.9

50 – 54

Phải Trái

19.2

20.7

1.8

2.3

18.0

20.1

2.5

3.0

55 – 59

Phải Trái

19.2

21.0

2.6

3.2

17.8

19.4

2.6

2.3

60 – 64

Phải Trái

20.3

21.0

2.6

2.5

18.4

20.6

2.0

2.2

65 – 69

Phải Trái

20.7 22.9

2.9 3.5

19.5 21.4

2.3 2.7

70 – 74

Phải Trái

22.0

23.8

3.3

3.9

20.2

22.0

2.7

2.7

Trên 75

Phải Trái

22.9 26.4

4.0 4.8

21.5 24.6

2.9 4.3

7. Tai biến và xử trí

Đây là một phương pháp đơn giản, không can thiệp, chưa ghi nhận tai biến nào trong quá trình lượng giác.

Tóm lại, kỹ thuật NHPT chỉ là một phương pháp đánh giá chức năng vận động của bệnh nhân sau đột quỵ, không thể thay thế cho các phương pháp khác như chụp cắt lớp vi tính (CT), cộng hưởng từ (MRI) hay các phương pháp khác để xác định chẩn đoán đột quỵ. Ngoài ra, NHPT cũng có thể không phù hợp cho tất cả các bệnh nhân đột quỵ, đặc biệt là những bệnh nhân có các vấn đề khác. Vì vậy, việc sử dụng NHPT chỉ nên được thực hiện dưới sự giám sát của một chuyên gia y tế, và kết quả đánh giá cần được đưa ra quyết định điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân.

Nguồn tham khảo: Bộ Y tế

facebook
51

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia