MỚI
load

Túi thừa Meckel ở người trưởng thành: Một số điểm chính với chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh

Ngày xuất bản: 11/03/2026

Túi thừa Meckel là một dị tật bẩm sinh của ruột non, phát sinh do sự thoái triển không hoàn toàn của ống noãn hoàng–ruột (omphalomesenteric duct). Tình trạng này lần đầu tiên được nhà giải phẫu học Johann Friedrich Meckel công bố chính thức vào năm 1809 [1]. Bệnh thường gặp ở trẻ em, trong khi ở người trưởng thành chỉ có dưới 100 báo cáo ca lẻ tẻ hoặc tổng hợp được công bố trên PubMed kể từ năm 2000.

1. Lâm sàng:

Nhìn chung, “quy luật số 2” đặc trưng cho bệnh lý này được sử dụng rộng rãi: gặp ở khoảng 2% trẻ sơ sinh, chiều dài khoảng 2 inch, nằm cách van hồi–manh tràng 2 feet, chứa hai loại mô lạc chỗ (niêm mạc dạ dày và mô tụy), và tỷ lệ mắc ở nam giới cao gấp đôi so với nữ giới [2].

Về mặt bệnh lý, túi thừa Meckel có thể biểu hiện dưới dạng một dải xơ, nang ống noãn hoàng–ruột, hoặc một túi mù dài 3–10 cm nằm ở bờ đối mạc treo của ruột non. Túi này có thể được lót bởi đầy đủ các lớp của thành ruột hoặc chứa mô lạc chỗ từ niêm mạc dạ dày hay mô tụy [3].

Mặc dù đa số trường hợp không có triệu chứng, biến chứng xảy ra ở khoảng 4,2–6,4% bệnh nhân, bao gồm xuất huyết do mô lạc chỗ, tắc ruột do lồng ruột hoặc dính ruột, và các triệu chứng giả viêm ruột thừa, loét, thủng hoặc u tân sinh [1].

2. Vai trò của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh:

Phổ biểu hiện lâm sàng rộng đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh tiên tiến để chẩn đoán chính xác trước phẫu thuật. Trong y văn thế giới, CT bụng hiện được xem là phương tiện chẩn đoán hàng đầu nhờ độ phân giải không gian cao và khả năng tái tạo đa mặt phẳng [4]. Túi thừa Meckel bình thường có hình ảnh tương tự quai ruột bình thường, trong khi hình ảnh túi thừa có biến chứng thay đổi tùy theo từng loại biến chứng. Hình ảnh điển hình là một cấu trúc dạng túi mù hình tam giác hoặc hình ống xuất phát từ bờ đối mạc treo của hồi tràng đoạn xa [4].
Hình 1. Hình ảnh siêu âm mặt cắt ngang vùng hố chậu phải (A, B) cho thấy một đoạn ruột (mũi tên) nằm cạnh một cấu trúc giảm âm không rõ ranh giới, hình tròn (mũi tên rỗng).
Hình 2. Hình ảnh CT bụng cửa sổ mô mềm cho thấy một túi thừa Meckel ở vùng hố chậu phải, gần rốn, xuất phát từ hồi tràng. Các hình cắt ngang (A) và cắt dọc (B) cho thấy thành trên của túi thừa không đều (mũi tên ở B), kèm thâm nhiễm mỡ xung quanh. Mặt phẳng axial ở cửa sổ phổi (C) ghi nhận khí (đầu mũi tên màu vàng) nằm dọc theo mặt trước của gan.

Y học hạt nhân sử dụng technetium-99m được xem là phương pháp nhạy nhất để phát hiện mô niêm mạc dạ dày lạc chỗ trong túi thừa, và có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn ở trẻ em (lần lượt 80–90% và 95–98%) so với người lớn, ở đó độ nhạy chỉ khoảng 62,5% và giá trị tiên đoán dương khoảng 60% [4].

Chụp mạch có thể hữu ích trong phát hiện xuất huyết đáng kể (>0,5 mL/phút) [2], trong khi siêu âm tần số cao hiệu quả trong chẩn đoán viêm túi thừa Meckel có chảy máu ở bệnh nhi và thường được sử dụng như phương tiện chẩn đoán hình ảnh đầu tay [4]. Ở bệnh nhân trưởng thành, siêu âm là công cụ có giá trị để loại trừ các tình trạng cấp tính khác như viêm ruột thừa hoặc viêm túi thừa đại tràng, đồng thời giúp xác định nguồn gốc đau để chỉ định CT đánh giá thêm.

3. Điều trị:

Túi thừa Meckel có triệu chứng thường cần được cắt bỏ bằng phẫu thuật nội soi hoặc mổ mở. Trong khi đó, việc xử trí các trường hợp không triệu chứng vẫn còn nhiều tranh cãi, mặc dù phẫu thuật dự phòng có thể được cân nhắc ở những trường hợp có nguy cơ cao xảy ra biến chứng trong tương lai [5]. Nghiên cứu của Mayo Clinic năm 2005 xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến biến chứng của túi thừa Meckel bao gồm: tuổi dưới 50, giới nam, chiều dài túi thừa >2 cm, và sự hiện diện của mô lạc chỗ trên đại thể [13]. Sự hiện diện từ một đến bốn yếu tố trên có thể là cơ sở để chỉ định cắt bỏ dự phòng, tùy theo quan điểm của từng tác giả hoặc từng trường hợp cụ thể [5].
Hình 3. Hình ảnh nội soi ổ bụng cho thấy một túi nhỏ xuất phát từ bờ đối mạc treo của hồi tràng; thành trước bị vỡ với bờ không đều. Trên mô bệnh học, các lát cắt cho thấy túi thừa Meckel có niêm mạc sung huyết, xuất huyết, lòng giãn; ngoài ra ghi nhận nhiều bạch cầu đa nhân trung tính thâm nhiễm từ lớp niêm mạc đến lớp thanh mạc. Kết luận phù hợp với viêm túi thừa Meckel và viêm phúc mạc khu trú.

4. Các vấn đề then chốt trong đánh giá bệnh:

  • Siêu âm tần số cao ban đầu là công cụ tin cậy để loại trừ các tình trạng cấp cứu và định hướng chẩn đoán, tiếp theo là CT như phương tiện nâng cao giúp chẩn đoán biến chứng túi thừa Meckel, với dấu hiệu quan trọng là vị trí và sự thông thương từ bờ đối mạc treo của hồi tràng đoạn xa, không phụ thuộc vào đường kính hay thành phần trong túi.
  • Cần nhận thức về khả năng chồng lấp biến chứng, trong đó khí tự do trong ổ bụng có thể là hậu quả của thủng túi thừa viêm.
  • Không nên bỏ qua khả năng xảy ra biến chứng túi thừa Meckel ở người trưởng thành trong chẩn đoán phân biệt.

Tài liệu tham khảo:

  1. J. Sagar, V. Kumar, D.K. Shah, Meckel’s diverticulum: a systematic review, J R Soc Med. 99 (10) (Oct 2006) 501–505, https://doi.org/10.1177/014107680609901011 (Erratum in: J R Soc Med. 2007 Feb;100(2):69. PMID: 17021300; PMCID: PMC1592061).
  2. J. An, C.P. Zabbo, Meckel Diverticulum. [Updated 2023 Jan 30], in: StatPearls [Internet], StatPearls Publishing, Treasure Island (FL), Jan 2024 (Available from:https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK499960/).
  3. Y. Li, L. Zhang, Meckel diverticulum. [Updated 2021 December 17]. In: PathologyOutlines.com website. https://www.pathologyoutlines.com/topic/smalbowelMeckels.html.
  4. A. Chatterjee, C. Harmath, C.L. Vendrami, N.A. Hammond, P. Mittal, R. Salem, F.H. Miller, Reminiscing on remnants: imaging of Meckel diverticulum and its complications in adults, AJR Am. J. Roentgenol. 209 (5) (Nov 2017) W287–W296, https://doi.org/10.2214/AJR.17.18088 (Epub 2017 Aug 23. PMID: 28834452).
  5. I. Mora-Guzm´ an, J.L. Munoz ˜ de Nova, Meckel’s diverticulum in the adult: prophylactic surgery, J Visc Surg. 155 (2) (Apr 2018) 167, https://doi.org/10.1016/j.jviscsurg.2018.01.005 (Epub 2018 Feb 4. PMID: 29397337).

Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Lê Thảo Trâm – Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Vinmec Nha Trang

facebook
0

Bình luận 0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia