MỚI
load

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên về ảnh hưởng của Dexmedetomidine lên tình trạng sảng, rối loạn chức năng nhận thức và giấc ngủ sau phẫu thuật chỉnh hình chương trình dưới gây tê vùng

Ngày xuất bản: 14/03/2026

Rối loạn nhận thức thần kinh sau mổ vẫn còn phổ biến ở nhóm người bệnh cao tuổi. Việc lựa chọn thuốc an thần có thể ảnh hưởng đến nguy cơ sảng sau mổ, suy giảm nhận thức sớm, chất lượng giấc ngủ và kết quả giảm đau lâu dài. Cần có chiến lược bảo vệ thần kinh thông qua sự phối hợp giữa gây mê, phẫu thuật và chăm sóc tại hồi sức tích cực. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đăng trên tạp chí Anesthesia & Analgesia 2026 đã cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng Dexmedetomidine, một loại thuốc an thần có đặc tính bảo vệ thần kinh độc đáo, làm giảm đáng kể nguy cơ sảng sau mổ, rối loạn chức năng nhận thức và rối loạn chức năng giấc ngủ ở bệnh nhân cao tuổi sau phẫu thuật chỉnh hình lớn dưới gây tê vùng.

1. Dexmedetomidine

Dexmedetomidine là chất chủ vận thụ thể α2– adrenergic chọn lọc, thường được sử dụng trong gây mê. Khác với Propofol, thuốc :

  • Bắt chước giấc ngủ tự nhiên bằng cách tác động lên vùng dưới đồi tiền thị giác
  • Không gây ức chế hô hấp, giúp duy trì nhịp thở bình thường.
  • Có tác dụng chống viêm và bảo vệ thần kinh.

II. Tóm tắt nghiên cứu:

Nghiên cứu ngẫu nhiên mù đôi có đối chứng 80 bệnh nhân > 65 tuổi phẫu thuật thay khớp háng hay khớp gối chương trình dưới gây tê vùng (không gây mê), được chia làm 2 nhóm: 41 BN được an thần với Dexmedetomidine và 39 BN an thần với Propofol.

Sử dụng các công cụ đánh giá bao gồm:

  • POD: Phương pháp đánh giá sự nhầm lẫn (Confusion Assessment Method – CAM)
  • ED: Thang đo an thần- kích động Riker (Riker Sedation-Agitation Scale)
  • POCD: Bộ trắc nghiệm tâm lý châu Âu ( European Battery of psychometric tests)
  • Giấc ngủ: Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index- PSQI)
  • Đau: Công cụ PainDETECT

Việc đánh giá được thực hiện trước mổ, 48-72 giờ sau mổ và 3 tháng sau mổ

Kết quả

1) Kết quả kiểm tra nhận thức: BN dùng Dexmedetomidine duy trì tình trạng ổn đinh hoặc cải thiện về:

  • Bài kiểm tra học tập bằng hình ảnh và ngôn ngữ (VLT)- giúp ghi nhớ tốt hơn
  • Bài kiểm tra chuyển đổi khái niệm (CST) – cải thiện tính linh hoạt nhận thức.
  • Bài kiểm tra từ màu Stroop (SCW) – hiệu ứng nhiễu ít hơn.
  • Mã hóa chữ số (LCD)- Tốc đọ xử lý ổn định.

Ngược lại, các BN được điều trị bằng Propofol cho thấy sự suy giảm mạnh ở tất cả các chỉ số trên trong vòng 48 giờ sau phẫu thuật.

2) Chất lượng giấc ngủ tốt hơn cả ngắn hạn và dài hạn: Theo kết quả khảo sát PSQI

  • Nhóm dùng Dexmedetomidine: chất lượng giấc ngủ được cải thiện sau mổ và duy trì tốt hơn trong 3 tháng.
  • Nhóm dùng Propofol: tình trạng ngủ trở nên xấu đi ngay sau mổ và chỉ hồi phục một phần sau đó.
  • Những cải thiện chính bao gồm:
  • Thời lượng giấc ngủ
  • Thời gian đi vào giấc ngủ
  • Giảm số lần thức giấc giữa đêm.

3) Kết quả điều trị đau: Mặc dù điểm đau cấp sau mổ chỉ giảm nhẹ, nhưng BN dùng Dexmedetomidine đã báo cáo

  • Tình trạng đau mạn tính giảm nhẹ hơn sau 3 tháng
  • Điểm đau thần kinh thấp hơn: PainDETECT 2,4 (Dexmedetomidine) so với 5,3 (Propofol) với p=0,023.
  • Nam giới trong nhóm dùng Propofol đặc biệt dễ bị đau mạn tính hơn.

Kết luận

Nghiên cứu này đánh dấu sự thay đổi đáng kể trong thực hành chăm sóc trước và sau phẫu thuật cho người bệnh chỉnh hình cao tuổi. Lợi ích bảo vệ thần kinh, ổn định giấc ngủ và giảm đau của Dexmedetomidine tạo nên một luận điểm thuyết phục cho việc ưu tiên sử dụng thuốc này thay cho Propofol trong các phẫu thuật tương tự.

Ý nghĩa trong thực tiễn lâm sàng

  • Bác sĩ Gây mê có thể xem xét Dexmedetomidine như một loại thuốc an thần được ưu tiên chọn lựa cho người bệnh cao tuổi khi phẫu thuật dưới gây tê vùng.
  • Phẫu thuật viên có thể kỳ vọng vào kết quả nhận thức được cải thiện và giảm biến chứng sau mổ.
  • Người bệnh được hưởng lợi từ tinh thần minh mẫn hơn, giấc ngủ ngon hơn và giảm tỉ lệ đau mạn tính sau mổ.

Tuy nhiên cần tiến hành thêm các nghiên cứu đa trung tâm quy mô lớn để củng cố các luận điểm này và xây dựng các hướng dẫn lâm sàng rộng hơn.

Nhóm tác giả

Vlasios Karageorgos, Panagiota Darivianaki, Anastasia Spartinou, Maria Christofaki, Aikaterini Chatzimichali, VasileiaNyktari, Panagiotis Simos, Alexadra Papaioannou

Nguồn và thời gian đăng báo

Anesthesia & Anagesia, tập 142, số 1 (2026):102-113

Ngày đăng: 01/2026.

DOI: 10.1213/ANE.0000000000007548

Người biên soạn: BSCK2 Nguyễn Thị Hoài Nam – Bệnh viện Vinmec Central Park.

facebook
0

Bình luận 0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia