Viêm túi mật cấp tính là một tình trạng lâm sàng phổ biến, ước tính xảy ra ở hơn 2007.000 người mỗi năm tại Hoa Kỳ. Chẩn đoán hình ảnh trước phẫu thuật chính xác của viêm túi mật cấp tính vẫn còn nhiều thách thức do sự xuất hiện khác nhau của viêm túi mật cấp tính, đặc biệt là ở giai đoạn đầu.Nhiều thế hệ bác sĩ X quang được dạy rằng chẩn đoán viêm túi mật cấp tính phụ thuộc vào sự hiện diện của hai dấu hiệu đồng thời: dấu hiệu Murphy siêu âm dương tính và sỏi mật. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nó không đủ nhạy để cho phép chẩn đoán chính xác viêm túi mật cấp tính ở nhiều bệnh nhân. Mặc dù thành túi mật dày lên và dịch quanh túi mật thường được coi là những dấu hiệu hữu ích bổ sung, nhưng chúng có thể được thấy ở vô số bệnh lý khác và ngược lại không phải lúc nào cũng được thấy trong viêm túi mật cấp tính.Các dấu hiệu siêu âm dự báo viêm túi mật cấp tính bao gồm giãn túi mật với đáy căng, sung huyết thành túi mật với vận tốc động mạch túi mật tăng cao, cặn túi mật không rõ nguyên nhân, mất phản xạ âm niêm mạc, gián đoạn niêm mạc và mỡ quanh túi mật tăng âm . Việc xác định chính xác các dấu hiệu này có thể giúp chẩn đoán viêm túi mật do sỏi cấp tính một cách chắc chắn hơn, từ đó tránh được sự chậm trễ tiềm tàng trong chăm sóc bệnh nhân hoặc các xét nghiệm xác nhận không cần thiết.
Tin tức
Mảng xơ vữa (MXV) động mạch vành (ĐMV) phát triển qua nhiều giai đoạn rồi cuối cùng nứt vỡ, gây tắc nghẽn lòng mạch vành là yếu tố chính dẫn đến nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp [3,4,22]. Điều này giải thích tại sao chụp cắt lớp vi tính (CLVT) ĐMV với khả năng đánh giá không chỉ hẹp lòng mạch vành mà còn khảo sát được đặc điểm mảng xơ vữa trên thành mạch cũng như điểm vôi hóa ĐMV có thể giúp cá thể hóa nguy cơ tim mạch cụ thể của người bệnh, giúp tăng độ chính xác trong tiên đoán biến cố tim mạch (diện tích dưới đường cong AUC khoảng 0,7 – 0,9), cao hơn so với các thang điểm đánh giá nguy cơ tim mạch đang được áp dụng trong thực hành lâm sàng hiện nay như SCORE-2, SCORE 2-OP, Framingham risk score với các thông số truyền thống bao gồm tuổi, giới, hút thuốc lá, nồng độ lipid máu...(AUC khoảng 0,6 – 0,7) [17]. Dựa trên cơ sở khoa học đã nêu, bài viết phân tích chi tiết các dấu hiệu hình ảnh MXVNCC trên CLVT ĐMV và tổng hợp bằng chứng y học từ các nghiên cứu lớn.
Tin tức
Tủy sống là một phần của hệ thần kinh trung ương. Tổn thương tủy sống là tình trạng tủy bị tổn thương do chấn thương hoặc do bệnh lý của tủy, như u tủy, viêm tủy, dẫn đến các rối loạn về cảm giác, vận động dưới mức tổn thương, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn đại tiểu tiện.Tổn thương tủy sống do chấn thương xảy ra khi có một tác động đột ngột lên cột sống, gây gãy hoặc trật đốt sống.Mức tổn thương: Là mức thần kinh khoanh tủy thấp nhất nơi có cảm giác và vận động bình thường
Tin tức
Ung thư không chỉ do đột biến gen, môi trường hay lối sống, mà khoảng 20% ca ung thư trên toàn cầu có liên quan đến virus. Các virus gây ung thư thúc đẩy quá trình này chủ yếu thông qua nhiễm trùng kéo dài, tồn tại trong cơ thể nhiều năm, liên tục tương tác với tế bào chủ và gây tích lũy các tổn thương di truyền và biểu sinh (những thay đổi trong cách gen được bật – tắt mà không đổi trình tự DNA).
Tin tức
Xoắn tinh hoàn là tình trạng cấp cứu nam khoa cần được chẩn đoán sớm để tránh việc cắt bỏ tinh hoàn. Dấu hiệu lâm sàng đau tức vùng bìu, căng đỏ, tinh hoàn treo cao, mất phản xạ cơ bìu, nôn buồn nôn là những biểu hiện nghĩ tới có thể xoắn tinh hoàn. Từ đó chỉ định siêu âm tinh hoàn được đặt ra. Tuy nhiên xoắn tinh hoàn bào thai là thử thách chẩn đoán khác. Thai nhi và mẹ không biểu hiện lâm sàng bất thường. Chẩn đoán thường được tình cờ khi phát hiện thông qua siêu âm thai. Chúng tôi đưa ra 1 ca bệnh khi siêu âm thai tháng cuối có hình ảnh nghi ngờ xoắn tinh hoàn và bàn luận về đặc điểm chẩn đoán hình ảnh cũng như xử trí của bệnh lý này
Tin tức
Tắc mạch ối là một biến chứng sản khoa rất nguy hiểm, có đặc tính bởi sự xâm nhập đột ngột nước ối hay mảnh mô, tổ chức thai vào trong tuần hoàn mẹ, xảy ra trong chuyển dạ, trong hoặc sau đẻ. Điều này kích hoạt tình trạng suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp tính và rối loạn đông máu. Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh thấp nhưng tắc mạch ối vẫn gây tử vong rất cao trên toàn thế giới. Kết cục của sơ sinh cũng rất kém. Nếu tắc mạch ối xảy ra trước khi sinh thì những trẻ sống sót cũng có thể bị tổn thương thần kinh rất nặng nề và lâu dài.
Tin tức
PT não tỉnh kết hợp theo dõi điện sinh lý trong mổ giúp lập bản đồ vỏ não, loại bỏ tối đa vùng não tổn thương mà vẫn bảo tồn được chức năng thần kinh. Để PT não tỉnh thành công, cần có sự hợp tác của người bệnh, sự giao tiếp trước và trong mổ, sự đồng thuận giữa các nhà PT, GM và đội ngũ nhân viên PM. Chưa có sự đồng thuận về phương pháp vô cảm tối ưu trong PT não tỉnh. Dựa trên đặc điểm của từng BN và phẫu thuật, chúng tôi đã chọn phương pháp Asleep – Awake- Asleep cho ca PT cắt bỏ tổn thương não gây động kinh, và phương pháp Awake – Asleep trong ca đặt điện cực não sâu. Scalp Block đóng vai trò quan trọng trong quản lý đau phẫu thuật não tỉnh.Từ khóa: PT não tỉnh, theo dõi điện sinh lý, lập bảng đồ vỏ não, động kinh, điện cực não sâu, Scalp block.
Tin tức
Tin tức
Các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (ICIs) và cuộc cách mạng trong điều trị ung thưCác thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (immune checkpoint inhibitors, ICIs) đã thay đổi sâu sắc ngành ung bướu học hiện đại bằng cách phục hồi đáp ứng miễn dịch chống khối u thông qua việc ức chế các con đường điều hòa như CTLA-4 (cytotoxic T-lymphocyte–associated protein 4) và trục PD-1/PD-L1 (programmed death-1/programmed death-ligand 1). Thông qua việc điều hòa cân bằng nội môi miễn dịch thay vì gây gây độc tế bào trực tiếp, ICIs cho phép kiểm soát khối u bền vững qua trung gian tế bào T, nhưng đồng thời cũng làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến cố bất lợi liên quan đến miễn dịch (immune-related adverse events, irAEs) do sự hoạt hóa miễn dịch ngoài mục tiêu [1–4].Hầu hết các biến cố bất lợi liên quan đến miễn dịch (irAEs) ghi nhận trên da, hệ tiêu hóa hoặc các cơ quan nội tiết, độc tim mạch đã dấy lên mối quan ngại nghiêm trọng do mức độ nặng nề và tỷ lệ tử vong liên quan. Trong đó, viêm cơ tim liên quan đến ICIs là một biến chứng hiếm gặp nhưng có tỷ lệ tử vong rất cao. Khi số lượng bệnh nhân ung thư sống sót được điều trị bằng ICIs tiếp tục gia tăng, việc nhận diện và xử trí các biến cố tim mạch bất lợi liên quan đến miễn dịch đã trở thành một thành phần trung tâm của thực hành tim mạch–ung bướu hiện đại, qua đó cho thấy sự cần thiết phải đặc biệt chú trọng đến chẩn đoán sớm, phân tầng nguy cơ và các chiến lược quản lý. [5,6].
Tin tức
Đột tử tim (Sudden Cardiac Death – SCD) là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong bệnh tim mạch, chiếm khoảng 15–20% tổng số ca tử vong toàn cầu. Phần lớn các trường hợp SCD xảy ra do rối loạn nhịp thất ác tính, chủ yếu là rung thất (ventricular fibrillation – VF) và nhịp nhanh thất (ventricular tachycardia – VT). Trong nhiều thập kỷ qua, ICD đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong phòng ngừa SCD, cả ở nhóm dự phòng tiên phát lẫn thứ phát.Tuy nhiên, việc chỉ định ICD không đơn thuần dựa trên một tiêu chí đơn lẻ (như phân suất tống máu thất trái – EF), mà cần đánh giá toàn diện nguy cơ loạn nhịp, giai đoạn bệnh, bệnh đồng mắc và tiên lượng sống còn. Lạm dụng ICD có thể dẫn đến tăng chi phí y tế, biến chứng thủ thuật và giảm chất lượng sống, trong khi thiếu sót chỉ định có thể khiến bệnh nhân đối mặt với nguy cơ đột tử.
