MỚI

Bệnh sinh và các yếu tố gây xơ vữa động mạch

Ngày xuất bản: 21/04/2023

Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “ Xơ vữa động mạch (XVĐM) là sự phối hợp các hiện  tượng thay đổi cấu trúc nội mạc của các động mạch lớn và vừa, bao gồm sự tích tụ cục bộ các chất lipid, các phức bộ glucid, máu và các sản phẩm của máu, mô xơ và cặn lắng acid, các hiện tượng này kèm theo sự thay đổi ở lớp trung mạc”.   Nói chung xơ vữa động mạch là hiện tượng xơ hóa thành động mạch bao  gồm các động mạch trung bình và động mạch lớn. Biểu hiện chủ yếu là sự lắng đọng  mỡ và các màng tế bào tại lớp bao trong thành động mạch gọi là mãng vữa.

1. Dịch tễ học

Ở các nước công nghiệp 50% tử vong do tim mạch trong đó nguyên nhân  XVĐM chiếm 50%. Tại Mỹ ở người trên 60 tuổi có 88% XVĐM, ở người già hơn thì  không người nào không bịxơ vữa động mạch. Bệnh tuy vậy vẫn gặp ở người trẻ. Trên 300 lính  Mỹ tuổi trung bình 22 chết trong chiếïn tranh ở Triều tiên, khi mổ tử thi thấy 77% bị XVĐM với mức độ nhiều hay ít. Ở nước ta chưa có số liệu toàn dân.


2. Nguyên nhân, bệnh sinh xơ vữa động mạch

2.1. Nhắc lại cấu tạo thành động mạch

Thành động mạch cấu tạo bởi 3 lớp đồng tâm từ trong ra ngoài như sau:

– lớp áo trong hay lớp nội mạc: chỉ có một lớp duy nhất cấu tạo bởi các tế bào nội  mạc nằm trong khoảng dưới không có tế bào và ngăn với trung mạc bời lớp đàn hồi  trong.

– lớp áo giữa hay lớp trung mạc tạo thành bởi những tế bào cơ trơn, sợi collagen và  elastin, giới hạn ngoại mạc bởi lớp đàn hồi ngoài.

– lớp áo ngoài hay ngoại mạc là lớp mô liên kết có các mạch máu nuôi.

2.2. Quá trình phát triển XVĐM  

Mảng Xơ vữa động mạch được tạo thành do sự dày lên của các thành động mạch  bao gồm mạng lưới mô sợi bao bọc chung quanh bởi lớp mỡ phát xuất từ khoảng  dưới nội mạc của bao trong. Mãng xơ vữa động mạch gặp chủ yếu ở các thân động mạch lớn  (ĐMC bụng, Đm vành, chậu đùi, cảnh và chủ xuống) đặc biệt hay ở những vùng  xoáy máu như những chỗ uốn cong hay chẻ đôi.

Mãng xơ vữa động mạch xuất hiện sau nhiều năm với những cơ chế mà ngày nay dần dần đã  được biết rõ hơn:

– Giai đoạn đầu do rối loạn huyết động tại chỗ (hiện tượng xoáy máu) làm biến đổi  cấu trúc bình thường của lớp trong. Tổn thương xuất hiện sớm nhất là tình trạng phù nề không có mỡ, về sau mới xuất hiện các tế bào ăn mỡ dưới dạng các tế bào có  hạt, tụ lại thành đám dưới tế bào nội mô. Giai đoạn này thành mạch bị rối loạn tạo  điều kiện cho lắng đọng lipid. Tiếp theo là sự hình thành những vệt mỡ trên bề mặt  nội mạc.

– Giai đoạn hai, mảng vữa đơn thuần xuất hiện. Mảng vữa dày giữa có vùng hoại tử nằm trong một vỏ xơ. Vùng hoại tử chứa rất nhiều acid béo và cholesterol. Mảng vữa  xơ tiến triển rất nhanh làm cho động mạch hẹp dần.

– Giai đoạn sau cùng là sự biến đổi thành mảng vữa gây biến chứng làm tắc nghẽn  khẩu kính động mạch và tai biến thiếu máu cục bộ. Hiện tượng chủ yếu của quá trình  phát triển này là sự loét của lớp áo trong, nghĩa là lớp tế bào nội mạc bị xé rách, máu  sẽ chảy vào qua chỗ loét tạo nên cục máu tụ. Sự rách của nội mạc gây nên sự dính  của tiểu cầu, xuất phát của nghẽn mạch, và tạo thành cục tắc, cục tắc sẽ bao phủ  chỗ loét. Đây là khởi đầu của các biến chứng về sau. Các mảng vữa xơ phát triển  ngày càng nhiều, các mảng canxi gắn liền nhau, tổ chức xơ phát triển nhiều hơn gây  bít tắc động mạch.

2.3. Những giả thuyết bệnh sinh XVĐM  

Có nhiều giả thuyết đã đề cập nhưng chưa hoàn toàn sáng tỏ.

2.3.1.Giả thuyết đáp ứng tổn thương thành động mạch: Lớp nội mạc chịu nhiều tổn  thương khác nhau như sự gia tăng cholesterol cao mãn tính hay do chấn thương,  thuốc, vi khuẩn, miễn dịch dị ứng, tự miễn. Nội mạc khi bị tổn thương sẽ làm cho  đơn bào gắn vào nội mạc, di chuyển xuyên qua nội mạc và chuyển thành đại thực  bào. Đại thực bào có khả năng bắt giữ các hạt lipid, nhất là LDL đã biến đổi. Sự hiện  diện của đại thực bào làm gia tăng tổn thương lớp nội mạc.

2.3.2.Giả thuyết tế bào: sự xâm nhập vào thành động mạch của bạch cầu đơn nhân  mất khả năng thực bào làm tổn thương hoặc kích thích phát triển các tế bào cơ trơn,  đại thực bào, tổ chức liên kết, phát triển những vùng tổn thương từ đó gây XVĐM  như thuyết tổn thương đã nêu.

2.3.3. Giả thuyết về ti lạp thể: Các men ti thể tế bào ở thành mạch có thể gây thoái  hoá và tích tụ mỡ ở tế bào cơ trơn nhất là men cholesterol ester hydrolase.

2.3.4. Giải thuyết đơn dòng: tại nơi tổn thương nội mạc động mạch sản sinh những  dạng enzyme kích thích phát triển tế bào cơ trơn của thành mạch giống cơ chế tạo u  lành tính, sau đó là quá trình tạo vữa xơ.

2.3.5. Giả thuyết về tăng lipid: Đây là giả thuyết được nhiều người công nhận nhất  vì:

– Có thể gây XVĐM trên thực nghiệm động mạch với chế độ ăn nhiều mỡ và  cholesterol.

– Những người có nồng độ lipid máu cao hay bị XVĐM hơn những người bình  thường thành phần cấu trúc của màng XVĐM chủ yếu là lipid.

Ngoài ra hiện nay nhiều tác giả còn đưa ra giả thuyết mới về cơ chế bệnh sinh xơ vữa liên quan đến vai trò nhiễm trùng như Helicobacter pylori, Chlamydia pneumoniae,  Cytomegalovirus.

3. Các yếu tố nguy cơ xơ vữa động mạch  

3.1.Tăng lipid máu: hầu hết các khảo sát dịch tễ học đều xác nhận tăng cholesterol  máu là nguy cơ chính XVĐM và là nguyên nhân bệnh tim mạch thiếu máu. Tuy nhiên  nguy cơ phụ thuộc vào loại lipoprotein chuyên chở cholesterol. LDL Cholesterol có  vai trò quan trọng đối với bệnh sinh XVĐM. Có thể nói rằng bất kỳ sự gia tăng LDL  cholesterol mức độ nào trong máu đều có nguy cơ gây XVĐM. Lipoprotein (a) hay  Lp(a) cũng là yếu tố nguy cơ cao khi vượt quá 0,3 g/l.

Chylomicron hình như ít có ý nghĩa trong việc gây XVĐM một phần vì nó hiện diện  cả trong điều kiện sinh lý, một phần người ta hiếm thấy sự gia tăng XVĐM song song  với sự gia tăng chylomicron.

HDL Cholesterol ngược lại là yếu tố chống xơ vữa cao vì chúng vận chuyển  cholesterol về gan trong điều kiện thành động mạch quá thừa cholesterol, do đó còn  gọi chúng là những cholesterol tốt.

3.2. Các yếu tố nguy cơ khác:  

Tăng huyết áp: Là yếu tố nguy cơ rất cao, nhất là đối với các mạch máu não. HA cao làm tăng sinh tế bào cơ trơn làm dầy trung mạc động mạch và làm gia tăng chất elastin, chất keo và  glycosaminoglycans. Áp lực do HA cao tạo ra cũng làm dễ vỡ mảng xơ vữa cũng  như làm gia tăng tính thấm nội mạc đối với cholesterol.

– Hút thuốc: cũng là yếu tố nguy cơ chính, nguy cơ mạch vành tăng gấp đôi ở người hút  thuốc, nhất là những người hút 40 điếu/ ngày.

– Đái đường: là nguyên nhân gây rối loạn lipid, nên dễ gây XVĐM.  -Béo phì, ít hoạt động.

– Stress.

– Các thuốc ngừa thai.

facebook
34

Bài viết liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia