MỚI

Ngày xuất bản: 26/02/2026

Xạ trị vùng đầu cổ để điều trị ung thư có thể dẫn đến bệnh lý mạch máu khởi phát muộn ở các mạch máu lớn và nhỏ do tổn thương nội mạc, xơ hóa và xơ vữa động mạch tiến triển. Bệnh lý mạch máu liên quan đến xạ trị thường lan tỏa và xảy ra ở những vị trí không phổ biến, trái ngược với các tổn thương khu trú điển hình phát triển tại các vị trí phân nhánh mạch máu do xơ vữa động mạch khi không có bức xạ. Tùy thuộc vào vị trí và liều lượng bức xạ, các mạch máu bị ảnh hưởng có thể bao gồm động mạch cảnh ngoài sọ và động mạch đốt sống hoặc các mạch máu vòng nối Willis trong sọ.Bài viết này nhằm mục tiêu trình bày tổng quan các vấn đề liên quan đến bệnh lý mạch máu não sau xạ trị vùng cổ từ thực tế ca lâm sàng trong thực hành.

Tin tức

Ngày xuất bản: 26/02/2026

Khó nhất trong cấp cứu và hồi sức không phải là “bù dịch hay không”, mà là cho đúng liều, đúng thời điểm, đúng bệnh nhân. Thực tế, nhiều bác sĩ vẫn dựa vào đường kính IVC đơn độc để suy luận “thiếu dịch hay quá tải”. Trong khi đó, chỉ số này có rất nhiều bẫy sinh lý và bệnh lý: IVC có thể giãn do hở van ba lá, tăng áp phổi, hoặc thay đổi kích thước ở vận động viên, và cũng có thể xẹp giả trong bối cảnh tăng áp lực ổ bụng [1,2].Quan trọng hơn, IVC không nói cho ta biết cơ quan đích đang “nghẹt” đến mức nào. Gan, ruột và đặc biệt là thận mới là nơi chịu hậu quả rõ nhất của sung huyết tĩnh mạch hệ thống, nhưng các tổn thương này thường bị bỏ sót nếu chỉ nhìn IVC hoặc chỉ dựa vào triệu chứng [4,6]. Đây cũng là lý do vì sao trong hồi sức cấp cứu, phù phổi và suy thận cấp không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với “quá tải dịch” [1,4-6].Về cơ chế, phù phổi (nhất là phù phổi do tim) chủ yếu phản ánh tăng áp lực đổ đầy tim trái và tăng áp lực thủy tĩnh mao mạch phổi. Nó có thể xảy ra trong “pressure overload” (tăng hậu gánh, HFpEF, rối loạn thư giãn, bệnh van tim…) ngay cả khi tổng thể tích tuần hoàn không tăng nhiều. Nói cách khác, bệnh nhân có thể “đầy phổi” nhưng chưa chắc “đầy tĩnh mạch hệ thống” [1,4-6].Ở chiều ngược lại, một phần quan trọng của tổn thương thận cấp (AKI) trong ICU là AKI do sung huyết tĩnh mạch (congestive nephropathy). Khi áp lực nhĩ phải (RAP) tăng, áp lực này truyền ngược ra hệ tĩnh mạch thận, làm giảm áp lực tưới máu cơ quan (MAP − CVP) và giảm lọc cầu thận, dù huyết áp động mạch đôi khi vẫn “ổn”. Đây là cơ chế trung tâm giải thích vì sao sung huyết có thể trực tiếp làm nặng chức năng thận [1,2].Chính vì vậy, có những tình huống rất dễ “đi sai đường” nếu chỉ nhìn triệu chứng: phù phổi do tăng hậu gánh mà dùng lợi tiểu mạnh có thể làm giảm thể tích tuần hoàn hiệu dụng và khiến AKI nặng thêm. Ngược lại, AKI do sung huyết mà né lợi tiểu sẽ khiến thận tiếp tục bị “kẹt nghẹt” và xấu đi [1,4-6]. Nhóm khó nhất là bệnh nhân vừa phù phổi vừa AKI. Khi đó, bác sĩ lâm sang sẽ dễ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan “lợi tiểu thì sợ tụt thể tích, còn không lợi tiểu thì sợ phù phổi tiến triển”. Với tình huống này thì siêu âm đánh giá sung huyết tĩnh mạch VExUS (Venous Excess Ultrasound) trở thành mảnh ghép quan trọng. VExUS không được thiết kế để trả lời câu hỏi mơ hồ như “dư dịch hay thiếu dịch?”, mà để trả lời câu hỏi thực dụng hơn và liên quan trực tiếp đến tổn thương cơ quan: bệnh nhân có đang bị sung huyết tĩnh mạch hệ thống đủ mức gây ảnh hưởng tạng như gan, thận hay không, và đáp ứng ra sao sau can thiệp [1-3,4-8]? Bài viết này nhằm cung cấp hướng dẫn ngắn gọn, dễ áp dụng để bác sĩ lâm sang có thể làm VExUS nhanh tại giường, đọc đúng, tránh bẫy và ra quyết định điều trị hợp lý, đặc biệt trong những tình huống dễ “lợi tiểu sai”.

Tin tức

Ngày xuất bản: 13/02/2026

1. Dây chuyền xử lý cấp cứu (Chuỗi sống còn) Một dây chuyền xử trí cấp cứu duy nhất được áp dụng cho trường hợp ngừng tim trong bệnh viện (IHCA) và ngừng tim ngoài bệnh viện (OHCA) ở cả người lớn và trẻ em. Hình 1: Dây chuyền xử lý cấp cứu ngừng tim

Tin tức

Ngày xuất bản: 06/02/2026

Buồn nôn và nôn sau phẫu thuật (PONV) chỉ những trường hợp có những than phiền buồn nôn, nôn xảy ra ở đơn vị hậu phẫu (PACU) hoặc trong 24-48 giờ sau phẫu thuật, Tỷ lệ của những biến chứng này rất khác nhau dao động từ 30-80% sau phẫu thuật phụ thuộc và loại gây mê, loại phẫu thuật cũng như yếu tố nguy cơ của người bệnh.PONV không chỉ gây ra cảm giác khó chịu cho người bệnh mà còn có thể gây nên những hậu quả ảnh hưởng đến kết quả điều trị chung như mất nước, rối loạn điện giải, mất thăng bằng toan kiềm, viêm phổi hít, tràn khí màng phổi, thiếu oxy, thủng thực quản, tăng áp lực nội sọ, đứt chỉ khâu, mất đi sự kết dính của vết thương, chảy máu, làm chậm khả năng ăn uống bằng đường miệng trở lại, làm chậm thời gian xuất hiện hoặc phải nhập viện trở lại làm tăng chi phí y tế. PONV còn làm người bệnh có một trải nghiệm ghê gớm về cuộc phẫu thuật. Dự phòng PONV không chỉ giúp cải thiện kết quả điều trị chung mà còn làm giảm chi phí cho người bệnh.Đã có hơn 4000 nghiên cứu được xuất bản về điều trị PONV trong suốt 50 năm qua, và ngày càng nhiều các thuốc chống nôn mới, cũng như các biện pháp chống nôn không dùng thuốc được giới thiệu trong thực hành lâm sàng, nhưng phương pháp dự phòng nôn tối ưu đối với những phẫu thuật cụ thể vẫn chưa được thống nhất.

Tin tức

Ngày xuất bản: 06/02/2026

Hằng năm, tại Hoa Kỳ xảy ra hơn 7000 ca OHCA và khoảng 20000 ca IHCA ở trẻ em. Mặc dù tỉ lệ sống sót gia tăng và tỉ lệ kết quả thần kinh thuận lợi sau khi bị IHCA ở trẻ em là tương đối tốt, tỉ lệ sống sót sau khi bị OHCA ở trẻ em vẫn thấp, đặc biệt là ở trẻ dưới 1 tuổi. Dây chuyền xử trí cấp cứu đòi hỏi sự phối hợp từ các chuyên gia y tế thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và, trong trường hợp OHCA, từ những người cứu hộ không chuyên, nhân viên liên lạc và người ứng cứu khẩn cấp.

Tin tức

Ngày xuất bản: 20/01/2026

Hội chứng mạch vành cấp tính (Acute Coronary Syndrome - ACS), bao gồm nhồi máu cơ tim có ST chênh lên, nhồi máu cơ tim không có ST chênh lên và đau ngực không ổn định, tiếp tục được xem như một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn cầu. Trong bối cảnh y học hiện đại không ngừng tiến bộ, các hướng dẫn điều trị dựa trên bằng chứng cần được cập nhật liên tục nhằm đảm bảo rằng thực hành lâm sàng luôn phản ánh những tiến bộ khoa học mới nhất. Đặc biệt với ACS - bệnh cảnh đòi hỏi sự can thiệp khẩn trương, chính xác và mang tính cá thể hóa cao - các khuyến cáo điều trị đóng vai trò then chốt, giúp bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết định tối ưu ngay từ giai đoạn cấp cứu cho đến quản lý lâu dài sau xuất viện.

Tin tức

Ngày xuất bản: 16/01/2026

Ngừng tim ngoài bệnh viện (OHCA) là một tình trạng cấp cứu nguy kịch với tỷ lệ tử vong cao. Hồi phục hoàn toàn chức năng thần kinh sau OHCA là rất hiếm, đặc biệt trong các tai nạn phối hợp đa cơ chế. Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nam 30 tuổi bị ngừng tim do điện giật và đuối nước. Bệnh nhân được người thân ép tim và thổi ngạt ngay tại hiện trường, sau đó được vận chuyển đến khoa Cấp cứu bệnh viện Vinmec Nha Trang sau khoảng 25 phút. Hồi sức tim phổi nâng cao (ACLS) được tiến hành ngay khi nhập viện, bao gồm sốc điện sớm, đặt nội khí quản, thông khí có oxy và dùng thuốc theo phác đồ. Bệnh nhân đạt tuần hoàn tự phát (ROSC) sau 22 phút. Trong giai đoạn hồi sức tích cực, bệnh nhân được điều trị hạ thân nhiệt chỉ huy (TTM), chăm sóc đa chuyên khoa và xử lý các biến chứng kịp thời. Bệnh nhân tiến triển thuận lợi, cai thở máy sau 4 ngày và được xuất viện an toàn ngày thứ 11 của bệnh. Trường hợp này khẳng định vai trò then chốt của cấp cứu ngoại viện và hồi sức đa chuyên khoa trong cải thiện tiên lượng bệnh nhân OHCA.

Tin tức

Ngày xuất bản: 09/01/2026

Xuất huyết tiêu hóa là một vấn đề phức tạp thường gặp ở chuyên khoa tiêu hóa. Chảy máu ruột non hiếm gặp nhất nhưng lại là vấn đề mơ hồ nhất trong xuất huyết tiêu hóa. Tỷ lệ thường gặp xuất huyết tiêu hóa trên (từ thực quản đến tá tràng), xuất huyết tiêu hóa dưới (Từ đại tràng đến hậu môn), và xuất huyết ruột non tương ứng là 50%, 40%, và 10% (1). Chảy máu ruột non có thể được xem là một mảng bí hiểm trong đường tiêu hóa vì nội soi khó có thể quan sát được, do vị trí nằm trong khoang phúc mạc, di động và dài. Trước đây nhiều công bố gộp xuất huyết ruột non với xuất huyết tiêu hóa thấp hoặc như một xuất huyết tiêu hóa không rõ nguyên nhân. Những phân loại gần đây chia xuất huyết tiêu hóa thành 3 loại: Xuất huyết tiêu hóa trên, xuất huyết tiêu hóa đoạn giữa và xuất huyết tiêu hóa thấp. Nếu nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa bắt đầu từ bóng Vater đến đoạn cuối của hồi tràng được xác định là xuất huyết tiêu hóa đoạn giữa (2). Vì khó khảo sát nên những trường hợp xuất huyết ruột non thường phải vào viện nhiều lần và truyền máu nhiều lân; do đó việc xác định nguyên nhân và chính xác vị trí chảy máu là rất cần thiết để có những can thiệp phù hợp và hiệu quả.

Tin tức

Ngày xuất bản: 30/12/2025

Tắc tĩnh mạch não (TTMN) hay huyết khối tĩnh mạch não (CVT) là một nguyên nhân ít gặp của đột quỵ, chiếm <2% tổng số ca, nhưng lại có khả năng hồi phục cao nếu được chẩn đoán và điều trị sớm. Bệnh thường gặp ở người trẻ, đặc biệt là phụ nữ trong giai đoạn mang thai hoặc hậu sản. Bài viết này trình bày tổng quan về dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng, hướng tiếp cận chẩn đoán và chiến lược điều trị hiện nay, đồng thời đề cập đến vấn đề tái phát ở phụ nữ có thai.

Tin tức

Ngày xuất bản: 26/12/2025

Tắc mạch ối (amniotic fluid embolism – AFE) là biến chứng sản khoa hiếm gặp nhưng có tỷ lệ tử vong cao (20–60%) và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ tại các nước phát triển. Chúng tôi báo cáo một ca bệnh tại Vinmec Hải Phòng năm 2023, trong đó việc kích hoạt đồng bộ Code Blue và Báo động đỏ đã thay đổi hoàn toàn tiên lượng, giúp cứu sống cả mẹ và con.
Trang
của 2