MỚI
load

U hoàng thể thai kỳ: Báo cáo ca lâm sàng với đặc điểm hình ảnh trên siêu âm, cộng hưởng từ và tổng quan y văn

Ngày xuất bản: 11/03/2026

U hoàng thể thai kỳ (Pregnancy luteoma) là một tổn thương lành tính, hiếm gặp của buồng trứng, xuất hiện trong thời kỳ mang thai do tăng sinh phản ứng của tế bào hoàng thể dưới tác động của hormon hCG [1]. Mặc dù không phải là u tân sinh thực sự, u hoàng thể thai kỳ lại có hình thái lâm sàng và hình ảnh học đa dạng, đôi khi giả dạng u buồng trứng ác tính, gây không ít khó khăn trong chẩn đoán và xử trí. Trong thực hành sản khoa và chẩn đoán hình ảnh, việc phân biệt giữa tổn thương lành tính có thể theo dõi và các khối u cần can thiệp phẫu thuật là hết sức quan trọng, bởi can thiệp không cần thiết có thể làm tăng nguy cơ cho cả mẹ và thai. U hoàng thể thai kỳ thường có đặc điểm là khối u dạng đặc hoặc hỗn hợp, có thể ở hai bên buồng trứng, dễ dẫn đến chẩn đoán nhầm và quyết định điều trị quá mức. Trên thực tế, do tần suất gặp thấp và có rất ít tài liệu về đặc điểm hình ảnh học, nhân một trường hợp u hoàng thể thai kỳ, chúng tôi xin trình bày ca lâm sàng với những đặc điểm trên siêu âm và cộng hưởng từ.

1. CA LÂM SÀNG

Sản phụ 29 tuổi, Para 0201, một lần sinh non 26 tuần bé mất, một lần sinh non 26 tuần nuôi được, tiền căn mổ cắt bán phần tuyến giáp do ung thư tuyến giáp dạng nhú chưa xâm lấn vỏ bao. Tiền căn buồng trứng đa nang, kích trứng bằng letrozole, trigger hCG 5000 UI, thai kì này IUI, các xét nghiệm tầm soát không gì đặc biệt, khâu eo cổ tử cung lúc 13 tuần. Các lần siêu âm thai từ đầu thai kì bình thường, mẹ hai buồng trứng bình thường. Đến khi siêu âm định kì lúc thai 24-25 tuần, mẹ phát hiện u đặc buồng trứng hai bên, tổn thương có tính chất  giống nhau ở hai buồng trứng, dạng nhiều nốt mô đặc, bờ giới hạn rõ, phản âm dày và kém, có tăng sinh mạch máu trung bình bên trong kích thước tăng dần theo thời gian, khối ở buồng trứng phải kích thước #63x41x50mm, khối bên trái kích thước #53x29x31mm, không có dịch tự do trong ổ bụng (Hình 1).  Siêu âm thai hình thái thai nhi bình thường. Bệnh nhân có triệu chứng cường androgen như rậm lông, mụn trứng cá, phì đại âm vật.

Hình 1: Hình siêu âm (A-C) u đặc dạng nốt ở hai bên buồng trứng lúc 24-25 tuần. Hình (F-K): U đặc bên trong có nhiều nốt bên trong, phản âm dày và kém, tăng dần kích thước theo tuổi thai ở hai bên buồng trứng, tăng sinh mạch máu trung bình, khối u bên phải (hình D-F), khối u bên trái (hình G-K)Hình 2: Hình cộng hưởng từ, hiện diện u dặc buồng trứng hai bên có tính chất giống nhau, hiện diện nhiều khối/nốt choán chỗ dạng mô đặc, tín hiệu thấp-trung gian trên t2w, trung gian trên t1w, hạn chế khuếch tán rõ rệt trên DWI và ADC (mũi tên, hình sao)

Bệnh nhân được chụp cộng hưởng từ (MRI) vùng chậu bằng máy Magnetom Skyra 3 Tesla. Cộng hưởng từ cho thấy các khối dạng mô đặc ở hai bên buồng trứng, có tính chất giống nhau ở hai bên buồng trứng tương tự như trên siêu âm (Hình 2). Buồng trứng phải kích thước #70x50x40mm, hiện diện nhiều khối/nốt choán chỗ dạng mô đặc d≤38mm tín hiệu thấp-trung gian trên t2w, trung gian trên t1w, hạn chế khuếch tán rõ rệt trên DWI và ADC (mũi tên). Buồng trứng trái kích thước #55x30x30mm, hiện diện nhiều khối/nốt choán chỗ dạng mô đặc tính chất tương tự buồng trứng phải  d≤20mm, tổn thương không có chứa mỡ (hình sao). Do bệnh nhân có thai không có tiêm thuốc tương phản nên không khảo sát được đặc tính bắt thuốc của u. Không thấy thâm nhiễm viêm hoặc tụ dịch quanh buồng trứng hai bên. Không thấy dịch tự do ổ bụng. Không thấy hạch phỉ đại vùng chậu. Trên cộng hưởng từ, gợi ý u hoàng thể thai kỳ, chẩn đoán phân biệt U tế bào hạt, u tế bào Leydig (ít nghĩ đến khả năng này)

Bệnh nhân được mổ lấy thai cấp cứu lúc 31w4 ngày do chuyển dạ sinh non, dọa vỡ tử cung, bé trai 1800gr Apgar 8/9 và bóc u buồng trứng hai bên.
Hình 3: Hình mô bệnh học của u buồng trứng phải

Mô bệnh học của u buồng trứng hai bên cho thấy mẫu mô hiện diện tổn thương giới hạn rõ, nhiều nốt giới hạn rõ với các tế bào đồng dạng, tròn tới bầu dục, bào tương nhiều ái toan, nhân tròn với hạch nhân rõ, sắp xếp dạng bè, không có hình ảnh dị dạng nhân. Kết quả giải phẫu bệnh lý là U hoàng thể thai kỳ.

2. BÀN LUẬN

Các nang buồng trứng trong thai kỳ thường liên quan đến các bệnh lý buồng trứng có sẵn từ trước; việc xuất hiện một bệnh lý buồng trứng mới trong thai kỳ là rất hiếm . Tỷ lệ khối phần phụ trong thai kỳ được báo cáo dao động 0,05–3,2% [2]. U hoàng thể thai kỳ là một tổn thương dạng u không tân sinh, xuất hiện trong thai kỳ và thoái triển tự nhiên sau sinh. U được mô tả lần đầu vào năm 1966 do Sternberg và Barclay, đến nay dưới 200 trường hợp đã được ghi nhận trong y văn và rất ít bài viết về đặc điểm hình ảnh của u hoàng thể thai kỳ trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh [3, 4]. U thường gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi 20–40, và có tỷ lệ cao hơn ở phụ nữ gốc Phi (African American) và ở những người đã sinh nhiều lần[4, 5]. Phần lớn các u hoàng thể thai kỳ không có triệu chứng lâm sàng và thường được phát hiện tình cờ khi siêu âm định kỳ thường quy hoặc trong lúc mổ lấy thai, đa số các trường hợp thoái triển hoàn toàn trong vài tháng sau sinh. Khoảng 50% trường hợp có dạng nhiều nốt, và khoảng một phần ba trường hợp tổn thương ở hai bên buồng trứng [5].

Một số ít trường hợp có hoạt tính nội tiết, với tăng sản xuất androgen, dẫn đến rậm lông và nam hóa ở mẹ (như giọng nói trầm hơn, mụn trứng cá, mọc lông mặt và phì đại âm vật),  đồng thời có thể gây nam hóa thai nhi [3].

Việc nhận biết đúng u hoàng thể thai kỳ có ý nghĩa lâm sàng quan trọng, nhằm tránh cắt bỏ buồng trứng không cần thiết, một can thiệp có thể làm gia tăng nguy cơ cho cả người mẹ và thai nhi. Trường hợp của chúng tôi, u phát hiện tình cờ khi siêu âm thai định kỳ ở tam cá nguyệt thứ hai, siêu âm buồng trứng đầu thai kỳ hoàn toàn bình thường.

Cơ chế bệnh sinh được giả định là do phản ứng quá mức của tế bào mô đệm buồng trứng đối với các hormon của thai kỳ, đặc biệt là human chorionic gonadotropin (hCG). HCG có tiểu đơn vị alpha tương đồng với hormone luteinizing (LH), từ đó gắn kết với thụ thể LH–hCG, vốn khu trú trên các tế bào mô đệm buồng trứng, gây ra hiện tượng tăng sinh và hoàng thể hóa các tế bào mô đệm buồng trứng. Tuy nhiên, u hoàng thể thai kỳ không thường gặp trong các tình trạng có nồng độ hCG tăng cao rõ rệt, như bệnh nguyên bào nuôi, quá kích hoàng thể, hoặc giai đoạn sớm của thai kỳ. Điều này gợi ý rằng có thể có các yếu tố khác chưa được biết rõ trong quá trình hình thành u hoàng thể thai kỳ[3] [6]. Các rối loạn nội tiết tồn tại từ trước, như tăng sản mô đệm buồng trứng hoặc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS), có khuynh hướng hình thành u hoàng thể [7], [1, 4]. Nồng độ β-hCG huyết thanh tăng cao được cho là có liên quan đến việc gây tăng sản các tế bào đã hoàng thể hóa [6]. Trường hợp của chúng tôi, có hai yếu tố có thể có mối liên quan đến bệnh là bệnh nhân có tiêm hCG gây phóng noãn (trigger hcg), tăng phơi nhiễm hCG sớm và trên nền tiền căn có hội chứng buồng trứng đa nang, tăng sinh mô đệm buồng trứng do đó hình thành u hoàng thể.

Do các tế bào mô đệm buồng trứng sản xuất androgen, hiện tượng nam hóa ở mẹ và thai nhi có thể xảy ra trong khoảng 25–30% trường hợp. Nam hóa thai nhi nữ xuất hiện ở khoảng một nửa số bệnh nhân có rậm lông ở mẹ, biểu hiện lâm sàng bằng phì đại âm vật và bộ phận sinh dục ngoài mơ hồ. Ở những trường hợp này, nồng độ testosterone huyết tương thường tăng rất cao, có thể lên đến 70 lần so với giá trị bình thường. Bé trai không bị ảnh hưởng bởi tình trạng này. Hầu hết các u hoàng thể thai kỳ thoái triển hoàn toàn trong vòng 3 tháng sau sinh, và nồng độ testosterone huyết thanh của mẹ thường trở về bình thường trong vòng khoảng 2 tuần sau sinh [3]. Trường hợp của chúng tôi thai nhi là bé trai, siêu âm hình thái bình thường, mẹ cũng có các dấu hiệu cường androgen rõ trên lâm sàng như mụn trứng cá, rậm lông và phì đại âm vật, tái khám một tháng sau sinh âm vật nhỏ lại, các dấu hiệu khác trở về bình thường.

Về hình ảnh đại thể, u hoàng thể thai kỳ có kích thước rất thay đổi, có thể lên đến 20 cm. Mặt cắt của khối u thường đặc, mềm, có màu nâu nhạt hoặc màu thịt, kèm theo các ổ xuất huyết.Vi thể, tổn thương điển hình gồm các khối tế bào tròn, ranh giới sắc nét, trong đó có các cấu trúc dạng nang chứa dịch nhạt màu hoặc chất dạng keo [3] [5].

Đặc điểm trên siêu âm, u hoàng thể thai kỳ không có hình ảnh đặc trưng trên siêu âm, các tài liệu cho thấy u hoàng thể thai kỳ thường là khối dạng mô đặc, một phần ba u ở hai bên buồng trứng, u có thể dạng một nốt mô đặc, 50% u có nhiều nốt mô đặc, nốt mô đặc có giới hạn rõ, phản âm của phần đặc kém hơn mô buồng trứng bình thường. U cũng có thể ở dạng mô đặc và nang, có các vùng xuất huyết, có tăng sinh mạch máu trong mô đặc hoặc tăng sinh mạch máu trên vách [1, 3-5, 8].

Đặc điểm trên hình cộng hưởng từ u hoàng thể thai ở dạng đặc, thường nhiều nốt, bờ tương đối rõ, kích thước u thay đổi. Có thể kèm vùng xuất huyết hoặc thoái hóa nang nhỏ, Trên hình T1-weighted u đồng tín hiệu hoặc tăng tín hiệu nhẹ so với cơ tử cung, các ổ xuất huyết tăng tín hiệu T1, trên hình T2-weighted, thường giảm tín hiệu do mô u giàu tế bào và mạch máu, tín hiệu không đồng nhất do thoái hóa nang hoặc xuất huyết, không có mỡ trong u. Trên hình DWI u hạn chế khuếch tán nhẹ–vừa, ADC không quá thấp. U bắt thuốc mạnh và sớm, không đồng nhất do tăng sinh mạch máu. Trong thực hành lâm sàng thường không có tiêm thuốc tương phản để đánh giá u hoàng thể thai kỳ vì có thai [4, 8, 9].

Trường hợp của chúng tôi, hình ảnh siêu âm u ở dạng mô đặc ở hai bên buồng trứng và có tính chất  giống nhau, dạng nhiều nốt mô đặc, bờ mô đặc giới hạn rõ, phản âm dày và kém, có tăng sinh mạch máu trung bình bên trong u, kích thước tăng dần theo tuần thai. Trên hình cộng hưởng từ, hiện diện u dặc buồng trứng hai bên có tính chất giống nhau, nhiều khối/nốt choán chỗ dạng mô đặc, khá đồng nhất, tín hiệu thấp-trung gian trên t2w, trung gian trên t1w, hạn chế khuếch tán rõ rệt trên DWI và ADC. Vì u ở dạng mô đặc, không thể phân biệt u hoàng thể thai kỳ với các u buồng trứng đặc khác như u thecoma hoàng thể hóa, u tế bào hạt, hoặc u tế bào Leydig nếu chỉ dựa trên đặc điểm hình ảnh học. Trong trường hợp của chúng tôi, là tổn thương hai bên buồng trứng và có hình thái nhiều nốt mô đặc, nốt mô đặc có giới hạn rõ là những đặc điểm thường gặp hơn ở u hoàng thể thai kỳ so với các khối u kể trên và u xuất hiện ở trong thai kỳ nên chẩn đoán đầu tiên nghĩ đến là u hoàng thể thai kỳ.

Về việc xử trí, u hoàng thể thai kỳ cần được tư vấn kỹ lưỡng cho người bệnh và gia đình, dựa trên các triệu chứng lâm sàng và tình trạng cá nhân của người bệnh. Phần lớn trường hợp có thể theo dõi bảo tồn, can thiệp phẫu thuật thường chỉ được chỉ định trong các trường hợp có biến chứng cấp tính như vỡ nang buồng trứng, xuất huyết hoặc xoắn buồng trứng. Một số tác giả khuyến cáo sinh thiết buồng trứng là biện pháp can thiệp phẫu thuật thích hợp trong u hoàng thể thai kỳ. Có thể tiến hành sinh thiết lạnh để xác định chẩn đoán  và giúp bảo tồn buồng trứng [1, 2].

3. KẾT LUẬN

U hoàng thể thai kỳ là u lành tính, hiếm gặp và thường được phát hiện tình cờ trên siêu âm thai định kỳ. Trường hợp của chúng tôi ở u xuất hiện ở bệnh nhân có các yếu tố kích thích buồng trứng, hCG gây phóng noãn, có tiền căn hội chứng buồng trứng đa nang, các yếu tố này có khả năng liên quan đến hình thành u hoàng thể thai kỳ. Về đặc điểm hình ảnh cho thấy u hoàng thể thai kỳ có thể biểu hiện trên siêu âm dưới dạng khối u dạng mô đặc, ở hai bên buồng trứng, ở dạng nhiều nốt mô đặc giới hạn rõ, xuất hiện trong thai kỳ và kích thước tăng dần theo thời gian, trên hình cộng hưởng từ giúp đánh giá các tính chất của khối u, góp phần giúp hỗ trợ thêm cho chẩn đoán, có thể hỗ trợ loại trừ các loại u buồng trứng ác tính khác. Tuy nhiên, các tài liệu báo cáo về hình ảnh của u hoàng thể thai kỳ vẫn còn rất ít, cần có nhiều ca lâm sàng hơn để đánh giá toàn diện về loại u này cũng như chẩn đoán cần dựa trên sự kết hợp giữa lâm sàng, hình ảnh học, xét nghiệm hormone để có thể giúp tránh các can thiệp phẫu thuật không cần thiết và bảo tồn chức năng sinh sản cho bệnh nhân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Pahirah, N. and M. Kitporntheranunt, Pregnancy Luteoma: Pathophysiology and Clinical Concern. Journal of the Medical Association of Thailand = Chotmaihet thangphaet, 2022. 105: p. 139-183.
  2. Coteli, S.A.D., G. Orgul, and M.C. Salman, Pregnancy luteoma: a rare presentation and expectant management. Case Reports in Perinatal Medicine, 2018. 7(2).
  3. Khurana, A. and M. O’Boyle, Luteoma of Pregnancy. Ultrasound Quarterly, 2017. 33(1): p. 90-92.
  4. Shang, J.H., et al., Imaging features, clinical characteristics and neonatal outcomes of pregnancy luteoma: A case series and literature review. Acta Obstet Gynecol Scand, 2024. 103(4): p. 740-750.
  5. Choi, J.R., D. Levine, and H. Finberg, Luteoma of pregnancy: sonographic findings in two cases. Journal of Ultrasound in Medicine, 2000. 19(12): p. 877-881.
  6. Anubha Bajaj, Fecundation and Transition-Pregnancy Luteoma Ovary. Acta Scientific MEDICAL SCIENCES, 2025. 9(2): p. 01-04.
  7. Stewart, I. and E. Twidale, Ovarian luteoma masses in pregnancy: an uncommon cause of virilisation. BMJ Case Rep, 2024. 17(9).
  8. Kao, H.W., et al., MR imaging of pregnancy luteoma: a case report and correlation with the clinical features. Korean J Radiol, 2005. 6(1): p. 44-6.
  9. Wang, H.K., et al., Magnetic resonance imaging of pregnancy luteoma. J Comput Assist Tomogr, 2003. 27(2): p. 155-7.

Tác giả: BS. Nguyễn Thị Thu Trang, BS. Nguyễn Chí Quang, BS. Hồ Huỳnh Nhung – Khoa sản phụ, bệnh viện Vinmec Central Park

facebook
0

Bình luận 0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia