MỚI
load

Tổng quan về sinh thiết xương

Ngày xuất bản: 06/02/2026

Sinh thiết xương là một thủ thuật lấy mẫu mô xương từ tổn thương xương để xác định bản chất mô học, giúp chẩn đoán xác định, phân loại và định hướng điều trị. Xét nghiệm này sẽ giúp phân biệt được tổn thương xương có phải là u xương hay không. Nếu là u xương thì là u xương lành tính hay ác tính.

Sinh thiết xương phải được lên kế hoạch cẩn thận để đảm bảo lấy được đầy đủ lượng mô để chẩn đoán. Sinh thiết được thực hiện không chính xác không những gây nặng thêm tình trạng bệnh mà có thể làm mất cơ hội bảo tồn chi thể. Sinh thiết phải được thực hiện theo nguyên tắc tối ưu hóa giá trị chẩn đoán, giảm thiểu nguy cơ lan tràn tế bào u, và không làm ảnh hưởng đến kế hoạch phẫu thuật triệt căn sau này [1–3].

1. Chỉ định sinh thiết xương

Sinh thiết xương được chỉ định trong các trường hợp:

  • Nghi ngờ về khối u xương ác tính, tổn thương xương nghi ngờ di căn xương, đặc biệt là tổn thương tiêu xương đơn độc ở bệnh nhân có tiền sử ung thư.
  • Nghi ngờ viêm xương, thường kết hợp với nuôi cấy tìm vi khuẩn gây bệnh.
  • Tìm nguyên nhân của các tổn thương xương không điển hình, không rõ ràng trên lâm sàng và hình ảnh như trong các trường hợp nghi ngờ bệnh lý chuyển hóa xương không điển hình, giảm mật độ xương tiến triển không đáp ứng điều trị, hoặc nghi ngờ bệnh lý hệ thống xâm nhập xương như mastocytosis, đa u tủy xương, mà các phương pháp không xâm lấn không đủ chẩn đoán [4]
  • Khi có sự khác biệt về các kết quả chẩn đoán trước đó mà có thể gây ra khác biệt về kế hoạch điều trị.
  • Khi cần xác nhận lại chẩn đoán trước khi tiến hành 1 can thiệp nặng nề, nguy hiểm hoặc điều trị tốn kém.

2. Nguyên lý sinh thiết xương

Các nguyên lý sinh thiết xương gồm:

 – Lựa chọn kỹ thuật sinh thiết phù hợp:

  • Sinh thiết kim lõi (Core needle biopsy) dưới hướng dẫn hình ảnh (CT, siêu âm) là phương pháp ưu tiên vì độ chính xác cao, ít xâm lấn, giảm nguy cơ gieo rắc tế bào u biến chứng [2,5–9]. Phương pháp này có độ chính xác cao (khoảng 92%) và tỷ lệ chẩn đoán thành công khoảng 85% [5].
  • Sinh thiết mở được lựa chọn trong các trường hợp đã thất bại chẩn đoán với sinh thiết kim lõi (do bệnh phẩm quá nhỏ, có yêu cầu lấy thêm bệnh phẩm từ bác sĩ giải phẫu bệnh) hoặc khi cần lấy mẫu lớn cho các phân tích đặc biệt (ví dụ: phân tích di truyền, mô học sâu), và phải được thực hiện bởi phẫu thuật viên ung thư xương tại trung tâm chuyên sâu [10].

 – Sinh thiết chỉ nên thực hiện sau khi đã có đánh giá hình ảnh đầy đủ (X-quang, MRI, CT) và hội chẩn đa chuyên khoa để xác định đường đi sinh thiết tối ưu, tránh gieo rắc tế bào u và không ảnh hưởng đến phẫu thuật triệt căn sau này [5].
 – Lập kế hoạch sinh thiết: Đường đi kim sinh thiết phải nằm trong vùng sẽ được cắt bỏ khi phẫu thuật triệt căn, có thể tiếp cận gần nhất với khối u, tránh xuyên qua các khoang giải phẫu không cần thiết, khớp, bó mạch, hoặc vùng da không dự kiến cắt bỏ, nhằm hạn chế nguy cơ gieo rắc tế bào u. [1,2,11].
 – Chiều dài đường sinh thiết mở cần nằm dọc theo trục cơ thể để tránh đi vào cùng lúc 2 khoang cơ, rạch da và mở nhỏ hết sức có thể để đảm bảo cho việc phẫu thuật sau này không phải cắt bỏ lượng mô, cơ quá mức cần thiết.
 – Phối hợp đa chuyên khoa: Sinh thiết nên được thực hiện tại bệnh viện có chuyên khoa về u xương phần mềm, bởi bác sĩ phẫu thuật ung thư xương, phần mềm, với sự phối hợp với bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, đảm bảo tối ưu hóa vị trí, kỹ thuật và xử lý mẫu mô [1,2,5].
 – Cầm máu kĩ: Việc cầm máu cẩn thận là bắt buộc vì khối máu tụ có thể cho phép các tế bào khối u lan rộng sang các khoang lân cận, ảnh hưởng đến khả năng bảo tồn chi và tăng khả năng nhiễm trùng vết thương [2,11].

3. Phân loại sinh thiết xương

Phân loại sinh thiết tổn thương xương:

 – Sinh thiết kim lõi (core needle biopsy)

  • Được thực hiện bởi BS can thiệp chẩn đoán hình ảnh dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc cắt lớp vi tính.
  • Ưu điểm: Thủ thuật đơn giản hơn, đau ít, nguy cơ chảy máu, nhiễm trùng, tổn thương mạch máu thần kinh, gieo rắc tế bào u thấp (dưới 1%) [12–14]; đa số là biến chứng nhẹ không ảnh hưởng đến điều trị.
  • Nhược điểm: Bệnh phẩm lấy được ít. Tỉ lệ sinh thiết không chẩn đoán được dao động từ 6-14% tùy loại tổn thương và vị trí.[15,16]

 – Sinh thiết mở (incisional biopsy):

  • Được thực hiện bởi Bs chuyên khoa Phẫu thuật u xương, phần mềm, tốt nhất là bác sĩ, ekip bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật chính cắt rộng u cho bệnh nhân sau này.
  • Ưu điểm: Lấy được lượng bệnh phẩm đủ lớn để bs Giải phẫu bệnh chẩn đoán.
  • Nhược điểm: Cần nhiều khâu chuẩn bị, chi phí lớn hơn. Nguy cơ chảy máu và tỉ lệ gieo rắc tế bào u theo đường sinh thiết cao hơn sinh thiết kim lõi (có thể tới 32%)[14].

 – Sinh thiết kim nhỏ (FNA) không được khuyến cáo cho khối u xương do tỷ lệ mẫu không đại diện và độ chính xác thấp, trừ một số trường hợp tổn thương lytic hoặc khi phối hợp với sinh thiết kim lõi để tăng tỷ lệ chẩn đoán [2,13]

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lai, C.; Long, J.R.; Larsen, B.T.; Iturregui, J.M.; Wilke, B.K.; Goulding, K.A. Percutaneous Biopsy of Musculoskeletal Tumors and the Potential for Needle Tract Seeding: Technical Considerations, Current Controversies, and Outcomes. Skeletal Radiol 2023, 52, 505–516, doi:10.1007/s00256-022-04187-2.
  2. Meek, R.D.; Mills, M.K.; Hanrahan, C.J.; Beckett, B.R.; Leake, R.L.; Allen, H.; Williams, D.D.; Tommack, M.; Schmahmann, S.; Hansford, B.G. Pearls and Pitfalls for Soft-Tissue and Bone Biopsies: A Cross-Institutional Review. Radiographics 2020, 40, 266–290, doi:10.1148/rg.2020190089.
  3. Errani, C.; Traina, F.; Perna, F.; Calamelli, C.; Faldini, C. Current Concepts in the Biopsy of Musculoskeletal Tumors. ScientificWorldJournal 2013, 2013, 538152, doi:10.1155/2013/538152.
  4. Kann, P.H.; Pfützner, A.; Delling, G.; Schulz, G.; Meyer, S. Transiliac Bone Biopsy in Osteoporosis: Frequency, Indications, Consequences and Complications. An Evaluation of 99 Consecutive Cases over a Period of 14 Years. Clin Rheumatol 2006, 25, 30–34, doi:10.1007/s10067-005-1132-7.
  5. Ahlawat, S.; Lenchik, L.; Baker, J.C.; Allen, H.; Banks, J.; Florou, V.; Garner, H.W.; Hammer, M.R.; Hiniker, S.M.; Kamel, S.I.; et al. ACR Appropriateness Criteria® Suspected Primary Bone Tumors: 2024 Update. Journal of the American College of Radiology 2025, 22, S440–S454, doi:10.1016/j.jacr.2025.02.020.
  6. Traina, F.; Errani, C.; Toscano, A.; Pungetti, C.; Fabbri, D.; Mazzotti, A.; Donati, D.; Faldini, C. Current Concepts in the Biopsy of Musculoskeletal Tumors. J Bone Joint Surg Am 2015, 97, e7.
  7. Traina, F.; Errani, C.; Toscano, A.; Pungetti, C.; Fabbri, D.; Mazzotti, A.; Donati, D.; Faldini, C. Current Concepts in the Biopsy of Musculoskeletal Tumors: AAOS Exhibit Selection. J Bone Joint Surg Am 2015, 97, e7, doi:10.2106/JBJS.N.00661.
  8. Ferreira, F.B.M.D.; Puchnick, A.; Garcia, D.L.; Regacini, R.; Perez, P.; Rosa Pinto, M.B.; Guimaraes, J.B.; Fernandes, A. da R.C. Image-Guided Percutaneous Needle Biopsy for Benign and Malignant Bone Tumors: Systematic Review and Meta-Analysis. J Vasc Interv Radiol 2023, 34, 623-632.e2, doi:10.1016/j.jvir.2022.12.467.
  9. Lewin, J.; Puri, A.; Quek, R.; Ngan, R.; Alcasabas, A.P.; Wood, D.; Thomas, D. Management of Sarcoma in the Asia-Pacific Region: Resource-Stratified Guidelines. Lancet Oncol 2013, 14, e562-570, doi:10.1016/S1470-2045(13)70475-3.
  10. Dietz, M.S.; Al-Ibraheemi, A.; Davis, J.L.; Hawkins, C.M.; Craig, B.T.; Dasgupta, R.; Geller, D.S.; Shulman, D.S.; Cohen-Gogo, S.; Gupta, A.; et al. Optimizing Ewing Sarcoma and Osteosarcoma Biopsy Acquisition: A Children’s Oncology Group Bone Tumor Committee Consensus Statement. J Natl Compr Canc Netw 2024, 23, e247063, doi:10.6004/jnccn.2024.7063.
  11. Errani, C.; Traina, F.; Perna, F.; Calamelli, C.; Faldini, C. Current Concepts in the Biopsy of Musculoskeletal Tumors. ScientificWorldJournal 2013, 2013, 538152, doi:10.1155/2013/538152.
  12. Huang, A.J.; Halpern, E.F.; Rosenthal, D.I. Incidence of Delayed Complications Following Percutaneous CT-Guided Biopsy of Bone and Soft Tissue Lesions of the Spine and Extremities: A 2-Year Prospective Study and Analysis of Risk Factors. Skeletal Radiol 2013, 42, 61–68, doi:10.1007/s00256-012-1433-2.
  13. Prud’homme, C.; Deschamps, F.; Allorant, A.; Massard, C.; Hollebecque, A.; Yevich, S.; Ngo-Camus, M.; Gravel, G.; Nicotra, C.; Michiels, S.; et al. Image-Guided Tumour Biopsies in a Prospective Molecular Triage Study (MOSCATO-01): What Are the Real Risks? Eur J Cancer 2018, 103, 108–119, doi:10.1016/j.ejca.2018.08.003.
  14. Barrientos-Ruiz, I.; Ortiz-Cruz, E.J.; Serrano-Montilla, J.; Bernabeu-Taboada, D.; Pozo-Kreilinger, J.J. Are Biopsy Tracts a Concern for Seeding and Local Recurrence in Sarcomas? Clin Orthop Relat Res 2017, 475, 511–518, doi:10.1007/s11999-016-5090-y.
  15. Adams, S.C.; Potter, B.K.; Pitcher, D.J.; Temple, H.T. Office-Based Core Needle Biopsy of Bone and Soft Tissue Malignancies: An Accurate Alternative to Open Biopsy with Infrequent Complications. Clin Orthop Relat Res 2010, 468, 2774–2780, doi:10.1007/s11999-010-1422-5.
  16. Hegde, V.; Burke, Z.D.C.; Park, H.Y.; Zoller, S.D.; Johansen, D.; Kelley, B.V.; Levine, B.; Motamedi, K.; Federman, N.C.; Seeger, L.L.; et al. Is Core Needle Biopsy Reliable in Differentiating Between Aggressive Benign and Malignant Radiolucent Bone Tumors? Clin Orthop Relat Res 2018, 476, 568–577, doi:10.1007/s11999.0000000000000062.

Tác giả: ThS.BSNT Trần Đức Thanh – Khoa PT xương và phần mềm, Trung tâm Chấn Thương chỉnh hình và y học thể thao, Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City

facebook
0

Bình luận 0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia