MỚI

Thuốc chống viêm không steroid (NSAID) trong phẫu thuật phục hồi chức năng khớp toàn bộ

Ngày xuất bản: 25/08/2022

Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) là loại thuốc có công dụng giảm đau, chống viêm, có hoặc không có hạ sốt, không chứa steroid. Bài viết cung cấp hướng dẫn về việc sử dụng NSAID trong phẫu thuật chỉnh hình nhằm cải thiện quá trình điều trị của bệnh nhân.

Theo Hướng dẫn thực hành lâm sàng của Hiệp hội bác sĩ phẫu thuật khớp háng và khớp gối Hoa Kỳ, Hiệp hội gây tê vùng và thuốc giảm đau Hoa Kỳ, Học viện phẫu thuật chỉnh hình Hoa Kỳ, Hiệp hội khớp háng và Hiệp hội khớp gối

Nhóm tác giả: Yale A. Fillingham MD1, Charles P. Hannon MD, MBA2, Karl C. Roberts MD3, Nhóm nghiên cứu Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng về Gây mê và Giảm đau của AAHKS4, William G. Hamilton MD5*, Craig J. Della Valle MD2*

Đơn vị công tác:

  1. Phòng phẫu thuật chỉnh hình, Trung tâm Y tế Dartmouth-Hitchcock, Lebanon, NH, Hoa Kỳ
  2. Phòng phẫu thuật chỉnh hình, Trung tâm y tế Đại học Rush, Chicago, IL, Hoa Kỳ
  3. Phòng phẫu thuật chỉnh hình, Đại học bang Michigan, Grand Rapids, MI, Hoa Kỳ
  4. Nhóm công tác bao gồm: BSYK Justin T. Deen (Khoa Chỉnh hình và Phục hồi chức năng, Đại học Y khoa Florida, Gainesville, FL, Hoa Kỳ), BSYK Greg A. Erens (Khoa Phẫu thuật Chỉnh hình, Đại học Emory, Atlanta, GA, Hoa Kỳ), BSYK Jess H. Lonner (Viện Rothman tại Đại học Thomas Jefferson, Philadelphia, PA, Hoa Kỳ), BSYK Aidin E. Pour (Khoa phẫu thuật chỉnh hình, Đại học Michigan, Ann Arbor, MI, Hoa Kỳ), BSYK Robert S. Sterling  (Khoa Phẫu thuật chỉnh hình, Trường Y Đại học Johns Hopkins, Baltimore, MD, Hoa Kỳ)

1. Giới thiệu

Hiệp hội bác sĩ phẫu thuật khớp háng và khớp gối Hoa Kỳ (AAHKS), Học viện bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình Hoa Kỳ (AAOS), Hiệp hội khớp háng, Hiệp hội khớp gối và Hiệp hội thuốc giảm đau và gây tê vùng Hoa Kỳ (ASRA) đã làm việc cùng nhau để xây dựng bản hướng dẫn sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) trong phẫu thuật phục hồi chức năng khớp toàn bộ (TJA) nguyên phát. Bằng cách thúc đẩy phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở đã được chứng minh đa ngành về việc sử dụng NSAID sau TJA nguyên phát, mục đích của bản hướng dẫn này nhằm cải thiện việc điều trị cho bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình và giảm bớt các phương thức thực hành khác nhau

Các hướng dẫn thực hành lâm sàng kết hợp nhằm giải quyết các câu hỏi thường gặp và quan trọng liên quan đến hiệu quả cùng tính an toàn của NSAID trong TJA nguyên phát. Bằng cách sử dụng Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng của AAOS và Phương pháp Đánh giá Hệ thống, các thành viên của hội đồng đã hoàn thành việc đánh giá có hệ thống và các phân tích tổng hợp để đưa ra những hướng dẫn thực hành lâm sàng. [1] Đối với mỗi câu hỏi, chúng tôi đều đưa ra một khuyến nghị, đánh giá độ mạnh của khuyến nghị và xây dựng cơ sở lý luận cho khuyến nghị ấy Trong đó, cơ sở lý luận sẽ được giải thích theo Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng của AAOS và Phương pháp Đánh giá có Hệ thống. [1] Bản hướng dẫn thực hành lâm sàng này dựa trên các bằng chứng hiện có, vì vậy trong tương lai cần có các bản cập nhật khi có thêm tài liệu bổ sung và các nghiên cứu khác.

2. Câu hỏi 1 trong bản hướng dẫn

Đối với bệnh nhân đang trải qua TJA nguyên phát, việc NSAID đường uống được sử dụng ngay lập tức trước phẫu thuật và/hoặc trong giai đoạn đầu hậu phẫu có ảnh hưởng đến cơn đau hậu phẫu và/hoặc ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng opioid hay không?

Trả lời/khuyến nghị 1A:

NSAID đường uống được sử dụng trước phẫu thuật và/hoặc trong giai đoạn đầu hậu phẫu sẽ làm giảm đau và giảm nhu cầu sử dụng opioid sau TJA nguyên phát.

Độ mạnh của khuyến nghị 1A: Mạnh

Trả lời/Khuyến nghị 1B:

Sử dụng NSAID clyclooxygenase-2 (COX-2) chọn lọc qua đường uống ngay trước phẫu thuật, so với sử dụng giai đoạn đầu hậu phẫu giúp cải thiện kiểm soát cơn đau hậu phẫu và giảm nhu cầu sử dụng opioid sau TJA nguyên phát. 

Độ mạnh của khuyến nghị 1B: Mức trung bình

Cơ sở lý luận:

Đại diện cho bằng chứng tốt nhất hiện có, chúng tôi đã xem xét mười bảy thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên bao gồm chín nghiên cứu chất lượng cao và tám nghiên cứu chất lượng mức trung bình để đánh giá hiệu quả của NSAID COX-2 chọn lọc đường uống (bao gồm các tác nhân ức chế COX-2 ưu tiên [ví dụ Meloxicam] và chọn lọc [ví dụ Celecoxib]) và không chọn lọc (tác nhân ức chế COX-1 và -2) đối với giảm đau và/hoặc nhu cầu sử dụng opioid sau phẫu thuật TJA. [2-18] Trong số các nghiên cứu  có so sánh NSAID chọn lọc và/hoặc không chọn lọc với giả dược được đưa vào đánh giá, có mười nghiên cứu điều tra NSAID chọn lọc và năm nghiên cứu điều tra NSAID không chọn lọc. [2-5, 7-15, 17] Tương tự như các chủ đề khác trong bản hướng dẫn thực hành lâm sàng, chúng tôi chỉ thực hiện được một số ít phân tích tổng hợp do sự không nhất quán trong báo cáo kết quả và mốc thời gian báo cáo kết quả.

Sau khi hạn chế các điểm không đồng nhất trong phân tích tổng hợp trực tiếp, kết quả chứng minh được NSAID đường uống có tác dụng trong việc giảm nhu cầu sử dụng opioid và tổng cường độ đau (với kết quả là điểm bốn trên thang đo cường độ đau đã cho thấy lợi ích điều trị trong một khoảng thời gian cụ thể) so với giả dược. Khi phân tích tổng hợp trực tiếp được thực hiện riêng lẻ đối với phẫu thuật phục hồi chức năng khớp gối và khớp háng toàn bộ nguyên phát, nhu cầu sử dụng opioid thấp hơn khi bệnh nhân được sử dụng NSAID đường uống trước phẫu thuật và/hoặc sau phẫu thuật. Tương tự, phân tích kết hợp các phẫu thuật phục hồi chức năng khớp gối và khớp háng toàn bộ nguyên phát cũng cho thấy kết quả giảm nhu cầu sử dụng opioid và cải thiện tổng chênh lệch về cường độ đau đối với NSAID đường uống so với giả dược.

Do thiếu sự nhất quán về kết quả,  chúng tôi không thực hiện được phân tích tổng hợp trực tiếp hoặc liên kết nào để so sánh các NSAID chọn lọc hoặc không chọn lọc. Tuy nhiên, phân tích định tính đối với các NSAID đường uống chọn lọc và không chọn lọc luôn chứng minh phản ứng vượt trội đáng kể về giảm đau sau phẫu thuật và giảm nhu cầu sử dụng opioid đối với cả hai loại NSAID chọn lọc và không chọn lọc. Có ba nghiên cứu đã so sánh trực tiếp NSAID đường uống chọn lọc và không chọn lọc. Kết quả, không có sự khác biệt đáng kể về nhu cầu sử dụng opioid sau phẫu thuật hoặc cường độ đau. [13, 16, 18] Tương tự, chúng tôi cũng không thực hiện phân tích tổng hợp trực tiếp hoặc liên kết để tìm hiểu về liều lượng NSAID đường uống sau phẫu thuật so với trước phẫu thuật. Trong số các nghiên cứu so sánh NSAID chọn lọc với giả dược, có ba nghiên cứu đề cập đến liều lượng trước phẫu thuật, ba nghiên cứu đề cập liều lượng thuốc sau phẫu thuật và bốn nghiên cứu đề cập cả liều lượng trước phẫu thuật và sau phẫu thuật. [2, 3, 5, 7-9, 11-14] Các nghiên cứu so sánh NSAID không chọn lọc với giả dược gồm bốn nghiên cứu đề cập liều lượng sau phẫu thuật và một nghiên cứu đề cập cả liều trước phẫu thuật và sau phẫu thuật. [4, 10, 13, 15, 17] Tuy nhiên, chỉ có một nghiên cứu chất lượng cao so sánh việc sử dụng liều duy nhất NSAID chọn lọc trước phẫu thuật và sau phẫu thuật cho thấy việc giảm sử dụng opioid khi sử dụng NSAID chọn lọc đường uống trước phẫu thuật.[12]

3. Câu hỏi 2 trong bản hướng dẫn

Đối với bệnh nhân đang trải qua TJA nguyên phát, NSAID đường uống được sử dụng sau khi xuất viện có ảnh hưởng đến cơn đau sau phẫu thuật và/hoặc nhu cầu sử dụng opioid hay không?

Trả lời/Khuyến nghị 2A:

Sử dụng NSAID COX-2 chọn lọc bằng đường uống sau khi xuất viện giúp giảm đau và giảm nhu cầu sử dụng opioid trong thời gian sáu tuần sau khi phẫu thuật phục hồi chức năng khớp gối toàn bộ nguyên phát (TKA). 

Độ mạnh của khuyến nghị 2A: Mức trung bình

Trả lời/Khuyến nghị 2B:

Trong trường hợp không có bằng chứng đáng tin cậy, nhóm công tác đề xuất rằng có thể sử dụng NSAID COX-2 chọn lọc đường uống sau khi xuất viện như một phần của phác đồ giảm đau đa phương thức, nhằm giảm đau sau phẫu thuật và giảm nhu cầu sử dụng opioid ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật phục hồi chức năng khớp háng toàn bộ nguyên phát (THA).

Độ mạnh của khuyến nghị 2B: Đồng thuận

Cơ sở lý luận:

Mặc dù có nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có chất lượng cao và chất lượng trung bình điều tra về việc sử dụng NSAID đường uống trong giai đoạn chu phẫu, chẳng hạn như trước phẫu thuật hoặc trong quá trình nằm viện sau phẫu thuật, chúng tôi lại thiếu các bằng chứng cùng mức để đánh giá việc sử dụng NSAID đường uống sau khi xuất viện. Do lo ngại về tính an toàn của việc sử dụng NSAID đường uống không chọn lọc trong một thời gian dài và thiếu bằng chứng cụ thể về NSAID đường uống không chọn lọc sau khi xuất viện, nhóm công tác đã quyết định chỉ đưa ra khuyến nghị về việc sử dụng NSAID đường uống chọn lọc sau khi xuất viện sau thực hiện TJA nguyên phát.

Tương tự như việc sử dụng NSAID COX-2 chọn lọc qua đường uống (bao gồm thuốc ức chế COX-2 chọn lọc [ví dụ Celecoxib] và ưu tiên [ví dụ Meloxicam]) trong giai đoạn chu phẫu, chẳng hạn như trước phẫu thuật hoặc trong khi nằm viện sau phẫu thuật, sử dụng trong thời gian dài các NSAID COX-2 chọn lọc đường uống có tác dụng giảm đau sau phẫu thuật và giảm nhu cầu sử dụng opioid. Một nghiên cứu chất lượng cao duy nhất điều tra việc sử dụng NSAID COX-2 chọn lọc đường uống so với giả dược trong sáu tuần đã cung cấp bằng chứng áp đảo ủng hộ việc sử dụng NSAID COX-2 chọn lọc bằng đường uống sau TKA nguyên phát. [19] Vì chúng tôi thiếu bằng chứng tương tự sau THA nguyên phát, nên nhóm công tác đưa ra khuyến nghị đồng thuận ủng hộ việc sử dụng NSAID COX-2 chọn lọc đường uống sau khi xuất viện sau THA nguyên phát. Hơn nữa, việc sử dụng NSAID đường uống như một thành phần của phác đồ điều trị giảm đau đa phương thức sau TJA nguyên phát đã chứng minh tác dụng đối với giảm đau, giảm sử dụng opioid và nguy cơ tác dụng phụ liên quan đến opioid, chẳng hạn như ức chế hô hấp, buồn nôn/nôn, an thần, hoặc bí tiểu. [20] Do đó, chúng tôi ủng hộ việc sử dụng các NSAID COX-2 chọn lọc đường uống sau khi xuất viện sau TJA nguyên phát như một phần của phác đồ giảm đau đa phương thức.

4. Câu hỏi 3 trong bản hướng dẫn

Đối với bệnh nhân đang trải qua TJA nguyên phát, liệu tiêm tĩnh mạch (IV) ketorolac trước phẫu thuật, trong phẫu thuật hoặc giai đoạn đầu sau phẫu thuật có ảnh hưởng đến cơn đau sau phẫu thuật và/hoặc nhu cầu sử dụng opioid không?

Trả lời/Khuyến nghị 3A:

Tiêm tĩnh mạch IV ketorolac trước phẫu thuật, trong phẫu thuật, hoặc trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật sẽ có tác dụng giảm đau và giảm nhu cầu sử dụng opioid sau phẫu thuật (trong vòng 48 giờ đầu) sau thực hiện TJA nguyên phát.

Độ mạnh của khuyến nghị 3A: Mạnh

Trả lời/Khuyến nghị 3B:

Liều thấp (15 mg) và liều cao (30 mg) ketorolac tiêm tĩnh mạch ngay sau phẫu thuật có tác dụng tương đương nhau trong việc giảm đau và giảm nhu cầu sử dụng opioid sau phẫu thuật (trong vòng sáu giờ đầu tiên) sau TJA nguyên phát.

Độ mạnh của khuyến nghị 3B: Mức trung bình

Cơ sở lý luận:

Chúng tôi đã xem xét bảy thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đại diện cho bằng chứng tốt nhất hiện có gồm bốn nghiên cứu chất lượng cao và ba nghiên cứu chất lượng trung bình, với mục đích đánh giá khả năng của ketorolac IV trong việc giảm đau sau phẫu thuật và/hoặc giảm sử dụng opioid sau TJA. [21-27] Phân tích định tính đều cho thấy kết quả tốt về mặt thống kê xoay quanh tác dụng của ketorolac IV so với giả dược trong việc giảm đau sau phẫu thuật và giảm sử dụng opioid, đồng thời không làm tăng đáng kể các biến chứng như tác dụng phụ, buồn nôn/nôn, mất máu, ngứa, bí tiểu hoặc suy hô hấp. Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có chất lượng cao và trung bình, nhưng do các thử nghiệm không thống nhất trong báo cáo kết quả về cường độ đau và mốc thời gian báo cáo kết quả, chỉ có thể thực hiện phân tích tổng hợp trực tiếp việc sử dụng opioid. Sau khi hạn chế bớt sự không đồng nhất, phân tích tổng hợp trực tiếp về việc sử dụng opioid đã cho thấy kết quả tốt của ketorolac IV so với giả dược.

Trong số các nghiên cứu được đưa vào đánh giá, tổng liều ketorolac được tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân dao động trong khoảng từ 15 mg đến 150 mg trong vòng 24 giờ đầu tiên sau phẫu thuật. [21-27] Tuy nhiên, chỉ có một nghiên cứu chất lượng cao đã so sánh liều thấp và liều cao của Ketorolac IV, và kết quả cho thấy không có sự khác biệt giữa một liều duy nhất sau phẫu thuật là 15 mg hoặc 30 mg ketorolac IV. [27] Mặc dù không có sự khác biệt nào được quan sát thấy giữa điều trị liều thấp và liều cao theo nghiên cứu này, nhưng so với các liều ketorolac IV được công bố khác thì liều 15 mg và 30 mg ketorolac IV vẫn được coi là liều tương đối thấp. Do đó, việc không quan sát được sự khác biệt có thể đơn giản là do sự chênh lệch giữa các liều chưa đủ lớn để quan sát thấy sự khác nhau trong phản ứng với liều lượng. Mặc dù ketorolac IV liều cao hơn có khả năng giảm đau sau phẫu thuật và giảm nhu cầu sử dụng opioid, nhưng nhóm công tác đề xuất sử dụng liều hiệu quả tối thiểu để giảm nguy cơ biến chứng y tế như suy thận cấp.

5. Câu hỏi 4 trong bản hướng dẫn

Đối với những bệnh nhân trải qua TJA nguyên phát, NSAID được sử dụng trước phẫu thuật, trong phẫu thuật hoặc sau phẫu thuật so với giả dược có làm tăng nguy cơ biến chứng y tế sau phẫu thuật?

Trả lời/Khuyến nghị:

NSAID đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch (IV) được sử dụng trước phẫu thuật, trong phẫu thuật hoặc sau phẫu thuật dường như không làm tăng nguy cơ biến chứng y tế sau TJA nguyên phát; tuy nhiên, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên cân nhắc các bệnh đi kèm của bệnh nhân, loại NSAID được sử dụng, liều lượng và thời gian sử dụng.

Độ mạnh của khuyến nghị: Hạn chế

Cơ sở lý luận:

Trong số các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có chất lượng cao và trung bình được đưa vào đánh giá so sánh giữa giải dược và NSAID đường uống trong giai đoạn chu phẫu, có 12 nghiên cứu báo cáo về các biến chứng y khoa liên quan đến việc sử dụng NSAID. [2-5, 7-9, 11-15] Kiểm tra định tính cho thấy không có sự khác biệt nhất quán giữa NSAID COX-2 chọn lọc đường uống (bao gồm các thuốc ức chế COX-2 chọn lọc [ví dụ Celecoxib] và ưu tiên [ví dụ Meloxicam]), NSAID đường uống không chọn lọc (các thuốc nhân ức chế COX-1 và -2) và giả dược ngoại trừ Tỷ lệ sốt sau phẫu thuật thấp hơn với những bệnh nhân dùng NSAID đường uống. Có khả năng thực hiện phân tích tổng hợp trực tiếp để so sánh các biến chứng khác nhau giữa giả dược và NSAID trong giai đoạn chu phẫu, kết quả phân tích không cho thấy sự khác biệt đáng kể về bất kỳ tác dụng phụ nào (nguy cơ tương đối 0,93; khoảng tin cậy 95% là 0,85 đến 1,02), nôn (nguy cơ tương đối 0,82; Khoảng tin cậy 95% từ 0,52 đến 1,31), buồn nôn (nguy cơ tương đối 0,84; khoảng tin cậy 95% 0,68 đến 1,04), mất máu (sai phân trung bình tiêu chuẩn -0,23; khoảng tin cậy 95% là -0,54 đến 0,08), ngứa (rủi ro tương đối 1,73; khoảng tin cậy 95% là từ 0,96 đến 3,13), bí tiểu (nguy cơ tương đối 1,24; khoảng tin cậy 95% là 0,34 đến 4,59), và an thần (0,46 nguy cơ tương đối; khoảng tin cậy 95% từ 0,16 đến 1,26). Tương tự như NSAID đường uống, kết quả phân tích tổng hợp trực tiếp các biến chứng y tế giữa ketorolac tiêm tĩnh mạch và giả dược không cho thấy sự liên quan đáng kể đến bất kỳ tác dụng phụ nào (nguy cơ tương đối 0,94; khoảng tin cậy 95% là 0,59 đến 1,50), buồn nôn (nguy cơ tương đối 0,89; khoảng tin cậy 95% là 0,70-1,12), nôn mửa (nguy cơ tương đối 0,73; khoảng tin cậy 95% là 0,47-1,14), mất máu (sai phân trung bình tiêu chuẩn -0,14; khoảng tin cậy 95% -0,46 đến 0,17), ngứa (nguy cơ tương đối 0,50; khoảng tin cậy 95% là  0,22-1,12), bí tiểu (nguy cơ tương đối 0,75; khoảng tin cậy 95% là 0,43-1,32) hoặc suy hô hấp (sai phân trung bình tiêu chuẩn -0,05; khoảng tin cậy 95% là -0,28 đến 0,18).

Mặc dù có bằng chứng ủng hộ NSAID đường uống và IV trong phân tích định tính và định lượng của nhiều nghiên cứu chất lượng cao và trung bình đối với tác dụng giảm đau sau phẫu thuật và giảm nhu cầu sử dụng opioid, nhưng hồ sơ về tính an toàn đối với đường tiêu hóa và thận của NSAID đường uống và IV vẫn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng ở những bệnh nhân sau TJA nguyên phát. Trái với việc các triệu chứng buồn nôn và nôn thường xuyên được báo cáo trong các nghiên cứu, các biến chứng nặng hơn bao gồm xuất huyết đường tiêu hóa trên và suy thận cấp lại không được báo cáo. Tuy nhiên, nguyên nhân không báo cáo có thể do chảy máu đường tiêu hóa trên là biến chứng hiếm gặp. Do đó, các bác sĩ lâm sàng nên cân nhắc tính an toàn của NSAID trong giai đoạn chu phẫu vì nó liên quan đến các biến chứng suy thận và tiêu hóa nặng. Sau cùng, nhóm công tác đã hạ mức độ mạnh của đề xuất này bằng cách chỉ định độ mạnh hạn chế đối với nó.

6. Các lĩnh vực nghiên cứu trong tương lai

Mặc dù bằng chứng tốt nhất hiện có bao gồm nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có chất lượng cao và trung bình, nhưng chúng tôi vẫn nhận thấy những hạn chế của tài liệu tham khảo trong việc xây dựng Hướng dẫn thực hành lâm sàng về việc sử dụng NSAID sau TJA nguyên phát. Vì vậy, chúng tôi đề nghị các nghiên cứu trong tương lai về việc sử dụng NSAID trong giai đoạn chu phẫu nên tập trung vào việc xác định thời điểm tối ưu của liều dùng và loại NSAID (chọn lọc hoặc không chọn lọc) để giảm đau sau phẫu thuật và/hoặc giảm sử dụng opioid. Vì tài liệu tham khảo hiện tại chỉ có một nghiên cứu duy nhất điều tra việc sử dụng NSAID chọn lọc sau khi xuất viện sau TKA nguyên phát nên vẫn cần nghiên cứu thêm. Chúng tôi đề nghị các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc sử dụng NSAID có chọn lọc sau khi xuất viện sau phẫu thuật phục hồi chức năng khớp háng và khớp gối nguyên phát. Nếu các nghiên cứu trong tương lai có thể chứng minh được tính an toàn khi sử dụng các NSAID không chọn lọc trong thời gian dài sau TJA nguyên phát, chúng tôi sẽ đề xuất đưa NSAID không chọn lọc vào nghiên cứu trong tương lai sau khi xuất viện sau TJA nguyên phát. Mặc dù chúng tôi có tài liệu tham khảo ủng hộ mạnh mẽ hiệu quả của ketorolac IV, nhưng chúng tôi thiếu bằng chứng đầy đủ để chứng minh liều lượng thích hợp có cân nhắc đến nhu cầu kiểm soát được cơn đau mà vẫn tránh rủi ro khi dùng liều cao hơn. Nhóm công tác tin rằng trở ngại lớn nhất đối với việc áp dụng rộng rãi các NSAID liên quan đến những lo ngại xung quanh tính an toàn đối với đường tiêu hóa và thận khi sử dụng rộng rãi các loại thuốc như NSAID đường uống, ketorolac IV, corticosteroid IV và dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) bằng aspirin trước phẫu thuật và sau phẫu thuật. Do đó, chúng tôi đề nghị nên tiếp tục theo dõi một cách rộng rãi các tác dụng phụ do sử dụng NSAID sau TJA nguyên phát.

7. Đánh giá từ các chuyên gia đồng cấp

Sau khi hội đồng xây dựng dự thảo Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng, nó đã được đánh giá đồng cấp từ ban giám đốc của AAHKS, ASRA và Hiệp hội khớp háng và khớp gối. Ủy ban đánh giá Chất lượng và Giá trị Dựa trên Bằng chứng của AAOS đã xem xét để xác nhận dự thảo Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng này. Ngoài ra, việc xuất bản tài liệu đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp về NSAID trong phẫu thuật phục hồi chức năng khớp háng và khớp gối nguyên phát hỗ trợ việc xây dựng Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng cũng đã được đánh giá đồng cấp trước khi xuất bản.

8. Yêu cầu tiết lộ

Tất cả các tác giả hoặc người đóng góp vào Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng này đã cung cấp một tuyên bố tiết lộ phù hợp với Chương trình Tiết lộ về Chỉnh hình của AAOS đã được công bố rộng rãi. Tất cả các tác giả và người đóng góp đều xác nhận không có tiết lộ nào được tuyên bố có liên quan đến Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng này.

9. Tuyên bố phê duyệt của FDA

Nhóm thuốc NSAID không chọn lọc được mô tả trong Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) phê duyệt cho các mục đích sử dụng theo đơn khác nhau, bao gồm giảm các triệu chứng liên quan đến viêm xương khớp, viêm khớp, đau bụng kinh nguyên phát, viêm bao hoạt dịch, viêm gân, và bùng phát bệnh gút cấp tính dựa trên từng loại thuốc.

Ngoài ra, các dạng thuốc đường uống đã được phê duyệt để sử dụng không kê đơn. Meloxicam là một chất ức chế COX-2 ưu tiên đã được FDA chấp thuận để giảm các triệu chứng liên quan đến viêm xương khớp và viêm khớp dạng thấp. Celecoxib là chất ức chế COX-2 có tính chọn lọc cao duy nhất hiện có trên thị trường Hoa Kỳ, được FDA chấp thuận để kiểm soát cơn đau cấp tính cũng như giảm các triệu chứng liên quan đến viêm xương khớp, viêm khớp và đau bụng kinh nguyên phát. Tất cả các NSAID đều được FDA cảnh báo về nguy cơ gia tăng các biến cố huyết khối tim mạch nghiêm trọng (bao gồm nhồi máu cơ tim và đột quỵ) cùng các biến cố tiêu hóa nghiêm trọng (bao gồm chảy máu, loét và thủng dạ dày hoặc ruột). Theo FDA, trách nhiệm của bác sĩ kê đơn là xác định tình trạng phê duyệt của FDA đối với tất cả các loại thuốc trước khi sử dụng trong lâm sàng.

Link bài gốc: http://www.aahks.org/wp-content/uploads/2020/04/AAHKS-CPG-NSAIDs-Guidelines-in-TJA-March-2020.pdf

Bản quyền và thương hiệu: Thông tin và hình ảnh trên website thuộc quyền sở hữu của Vinmecdr. Việc sao chép, sử dụng phải được Vinmecdr chấp thuận trước bằng văn bản.

Miễn trừ trách nhiệm: Tất cả những tư liệu được cung cấp trên website này đều mang tính tham khảo. Do đó, nội dung và hình ảnh sẽ được thay đổi, cập nhật và cải tiến thường xuyên mà không phải thông báo trước. Vinmecdr không bảo đảm về độ chính xác cũng như sự hoàn thiện về thông tin. Chúng tôi không chịu trách nhiệm pháp lý cho những thiệt hại xuất hiện trực tiếp hay gián tiếp từ việc sử dụng hoặc hành động dựa theo những thông tin trên hoặc một số thông tin xuất hiện trên website này. Vinmecdr không chịu trách nhiệm pháp lý về những sai sót, lỗi chính tả… do nhập liệu cùng với những sự cố khách quan khác như: nhiễm virus, hành vi phá hoại, ác ý… xảy ra trên website này cũng như các website liên kết, nếu có.

Đường link liên kết

Vinmecdr sẽ không chịu trách nhiệm hay có nghĩa vụ pháp lý dưới bất kỳ hình thức nào về nội dung của những website không thuộc Vinmecdr được liên kết với website www.vinmecdr.com, bao gồm các sản phẩm, dịch vụ và những mặt hàng khác được giới thiệu thông qua những website đó.

facebook
20

Bài viết liên quan

Thuốc liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia