MỚI

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên: Hiệu quả của 2 can thiệp tích hợp về cai rượu và sự ức chế vi rút ở người trưởng thành Việt Nam có sử dụng rượu ở mức nguy hại và nhiễm HIV đã được đăng tải trên tạp chí: JAMA network open, tập 3, số 9

Ngày xuất bản: 25/05/2022

Nhóm tác giả: Vivian F Go 1, Heidi E Hutton 2, Tran V Ha 1 3, Geetanjali Chander 4 5, Carl A Latkin 5 6 7, Nguyen V T Mai 8, Bui X Quynh 3, Vu Nguyen 3, Teerada Sripaipan 1, Kathryn E Lancaster 9, Natalie Blackburn 1, Rebecca B Hershow 1, David W Dowdy 7 10 11, Constantine Frangakis 7 12

Ngày đăng tải: ngày 1 tháng 9 năm 2020

Đơn vị công tác

  1. Khoa Hành vi Sức khỏe, Trường Y tế Công cộng Gillings, Đại học Bắc Carolina tại Chapel Hill.
  2. Khoa Tâm thần và Khoa học Hành vi, Trường Y, Đại học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland.
  3. Đại học Bắc Carolina Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
  4. Đơn nguyên Nội tổng quát, Khoa Y, Đại học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland.
  5. Khoa Dịch tễ học, Trường Y tế Công cộng Bloomberg, Đại học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland.
  6. Khoa Sức khỏe, Hành vi và Xã hội, Trường Y tế Công cộng Bloomberg, Đại học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland.
  7. Khoa Y, Đại học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland.
  8. Hệ thống Y tế Vinmec, Hà Nội, Việt Nam.
  9. Đơn vị Dịch tễ học, Đại học Y tế Công cộng, Đại học Bang Ohio, Columbus, Ohio.
  10. Đơn vị Bệnh Truyền nhiễm, Khoa Dịch tễ học, Trường Y tế Công cộng Bloomberg, Đại học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland.
  11. Đơn vị Kiểm soát và Dịch tễ học Bệnh Toàn cầu, Khoa Sức khỏe Quốc tế, Trường Y tế Công cộng Bloomberg, Đại học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland.
  12. Khoa Thống kê sinh học, Trường Y tế Công cộng Bloomberg, Đại học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland.

Tóm tắt

Tầm quan trọng: Việc sử dụng rượu mức độ nặng và nguy hại phổ biến ở những người nhiễm HIV và có thể làm giảm tuân thủ điều trị kháng retrovirus (ART/ARV), nhưng dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên về các tác động của các biện pháp can thiệp đối với tải lượng vi rút vẫn còn hạn chế.

Mục tiêu: So sánh hiệu quả của 2 biện pháp can thiệp dựa trên phòng khám ARV có thể mở rộng trên cơ sở sử dụng rượu và ức chế vi rút.

Thiết kế, hoàn cảnh và đối tượng tham gia: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên 3 nhóm này được thực hiện trên 440 người trưởng thành nhiễm HIV đang điều trị tại 7 phòng khám ARV ở Thái Nguyên, Việt Nam. Người trưởng thành đang điều trị ARV có sử dụng rượu ở mức độ nguy hại (Điểm kiểm tra mức độ tiêu thụ xác định các rối loạn sử dụng rượu (AUDIT-C) ≥4 đối với nam hoặc ≥3 đối với nữ) và không có kế hoạch rời khỏi Thái Nguyên. Dữ liệu được thu thập từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 5 năm 2018 và phân tích từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 2 năm 2020.

Can thiệp: Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên (theo tỷ lệ 1:1:1) vào 3 nhóm can thiệp, can thiệp theo tiêu chuẩn chăm sóc (SOC), can thiệp kết hợp giữa liệu pháp nâng cao động lực và liệu pháp hành vi nhận thức (6 phiên trực tiếp, mỗi phiên 1 giờ và 3 phiên nhóm tùy chọn), và can thiệp ngắn với các nội dung tương tự như can thiệp kết hợp nhưng bao gồm 2 phiên trực tiếp thời lượng ngắn hơn và 2 phiên điện thoại.

Các kết quả can thiệp và phương pháp nghiên cứu chính: Kết quả nghiên cứu ban đầu là tỷ lệ phần trăm số ngày kiêng rượu, được xác nhận bằng chất đánh dấu cồn sinh học phosphatidylethanol, và đạt được sự ức chế vi rút sau 12 tháng can thiệp.

Kết quả: Tổng số 440 cá nhân đủ điều kiện (độ tuổi trung bình [SD] 40.2 [5.8] tuổi; 426 [96.8%] nam giới) đã được thực hiện can thiệp; 147 (33.4%) được chỉ định cho can thiệp kết hợp, 147 (33.4%) cho can thiệp ngắn, và 146 (33.2%) cho can thiệp SOC. Trong nhóm can thiệp kết hợp, 112 người bệnh (76.2%) tham dự tất cả 6 phiên, và trong nhóm can thiệp ngắn, 124 (84.4%) tham dự cả 4 buổi; trong toàn bộ mẫu, 390 (88.6%) đã hoàn thành 12 tháng theo dõi. Tại thời điểm 12 tháng, tỷ lệ trung bình (SE) số ngày kiêng rượu là 65% (3.1%) trong những người tham gia nhóm can thiệp kết hợp, 65% (3.2%) ở nhóm can thiệp ngắn và 50% (3.4%) ở nhóm SOC (đo lường kích thước hiệu ứng với d của Cohen (Cohen’s d) đối với can thiệp kết hợp so với SOC và can thiệp ngắn so với SOC: 39%; 95% CI, 15% đến 64%). Sự ức chế vi rút (tức là <20 bản sao HIV-1 RNA trên mỗi mililit) tại thời điểm 12 tháng cao hơn sau can thiệp ngắn so với SOC (khác biệt, 11%; 95% CI, 2% đến 20%), nhưng sự khác biệt giữa can thiệp kết hợp và SOC không phải là khác biệt có ý nghĩa thống kê (khác biệt, 5%; 95%, CI, -5% đến 15%).

Các kết luận và mức độ liên quan: Trong nghiên cứu này, can thiệp ngắn đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể tỷ lệ phần trăm số ngày kiêng rượu và sự gia tăng đáng kể trong hiệu quả ức chế virus sau 12 tháng. Các nghiên cứu khoa học thực hiện trong tương lai đánh giá mở rộng quy mô can thiệp ngắn là cần thiết.

Đăng ký thử nghiệm: ClinicalTrials.gov Mã định danh: NCT02720237.

Được trích dẫn: 6 bài báo

Ảnh hưởng của hai can thiệp giảm rượu đối với các triệu chứng trầm cảm và lo âu của bệnh nhân điều trị ARV tại Việt Nam

Mối liên hệ theo chiều dọc giữa các triệu chứng trầm cảm, lo âu và kết quả nhiễm HIV, và tác động điều chỉnh của tình trạng nghiện rượu giữa các bệnh nhân điều trị ART có sử dụng rượu mức độ nguy hại ở Việt Nam

Các can thiệp hiện tại cho người nhiễm HIV sử dụng rượu: Tại sao giới tính lại quan trọng

Hiệu quả về chi phí của việc đáp ứng và thực hiện một can thiệp ngắn hướng đến việc sử dụng rượu thường xuyên ở người nhiễm HIV ở Việt Nam

Sử dụng rượu, các triệu chứng trầm cảm và hành vi bạo lực từ bạn tình: Một phân tích dọc về nam giới nhiễm HIV ở miền Bắc Việt Nam

Thực hiện hai biện pháp can thiệp giảm thiểu sử dụng rượu ở những người sử dụng rượu mức độ nguy hại nhiễm HIV tại Thái Nguyên, Việt Nam: phân tích định giá vi mô

Để đọc chi tiết bài nghiên cứu, vui lòng truy cập tại đây.

facebook
35

Bài viết liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia