MỚI

Sốc nhiễm khuẩn: Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị

Ngày xuất bản: 28/06/2023

Sốc nhiễm khuẩn là tình trạng mà bệnh nhân phát triển sốc do bị nhiễm khuẩn nghiêm trọng. Tình trạng này diễn ra rất nhanh và rất nguy hiểm, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Hiện nay, việc chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn đang gặp nhiều khó khăn do chưa có bất kỳ xét nghiệm đặc hiệu nào để chẩn đoán nhiễm trùng nặng.

1. Nguyên nhân dẫn đến sốc nhiễm khuẩn:

Sốc nhiễm khuẩn, còn được gọi là thời kỳ nặng nhất của viêm hệ thống do nhiễm khuẩn, thường xảy ra khi bệnh nhân phản ứng viêm hệ thống với nhiễm khuẩn nặng, dẫn đến suy đa tạng.

– Trong giai đoạn sốc nhiễm khuẩn, bệnh nhân bị nhiễm khuẩn huyết kèm theo tụt huyết áp và rối loạn chức năng tim mạch. Tình trạng này là rất nghiêm trọng và có thể dẫn đến tỷ lệ tử vong lên đến 40-60%.

– Các yếu tố của hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) bao gồm nhiệt độ cơ thể >38 độ C hoặc <36 độ C, nhịp tim >90 lần/phút, thở nhanh hơn 20 lần/phút.

– Sốc nhiễm khuẩn xảy ra khi tình trạng nhiễm khuẩn huyết trở nên nặng hơn và kết hợp với tụt huyết áp, bất thường về tưới máu, và các triệu chứng khác.
Sốc nhiễm khuẩn: Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị

Sốc nhiễm khuẩn là nhiễm trùng huyết nặng

– Nguyên nhân chính dẫn đến sốc nhiễm khuẩn là: 

  • Nhiễm trùng nặng có thể xảy ra tại bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể.
  • Nhiễm trùng nặng ở đường tiêu hóa có thể gây ra sốc nhiễm trùng.
  • Sỏi đường mật hoặc túi mật có thể gây viêm đường mật hoặc túi mật, dẫn đến nguy cơ nhiễm trùng.
  • Ở phụ nữ, việc nạo phá thai không đảm bảo vệ sinh tuyệt đối hoặc đẻ khó cũng là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm trùng.
  • Nhiễm trùng ngoài da như vết đứt tay, vết mổ không được sát khuẩn kỹ, các vết mụn nhọt áp xe cũng là nguyên nhân gây ra sốc nhiễm khuẩn.
  • Các thủ thuật như nong niệu đạo, cổ tử cung hoặc đặt ống thông tiểu và nội soi phế quản, màng bụng cũng có thể gây nhiễm trùng nặng.

2. Triệu chứng sốc nhiễm khuẩn:

Các dấu hiệu của nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn có thể khác nhau tùy thuộc vào tình trạng của từng người:

– Sốt cao, rét run hoặc thân nhiệt giảm đột ngột.

– Thở nhanh, giãy giụa, mất định hướng, nhịp tim nhanh, yếu và khó bắt mạch hoặc rối loạn vận mạch.

– Các bất thường ở hệ tim mạch có thể là dấu hiệu cảnh báo cho việc mắc bệnh.

– Tiểu ít (do sốt hoặc áp lực lọc ở cầu thận bị suy giảm) hoặc suy thận cấp.

– Các đầu chi và da bị lạnh do co mạch ngoại biên. Bên cạnh đó, móng tay, chân, mũi, tai có thể bị tím tái và có biểu hiện sốc lạnh.

– Trong tình huống tệ nhất, da sẽ bị hoại tử

– Trong một số trường hợp, bệnh nhân cảm thấy toàn cơ thể đau nhức, là do búi cơ bị thiếu oxy.

Việc tự ý mua thuốc về uống hoặc tự chẩn đoán bệnh là cấm kỵ. Nếu có những dấu hiệu trên, hãy đến bệnh viện gần nhất thực hiện cấp cứu.

Các giai đoạn của sốc nhiễm khuẩn
Các giai đoạn của sốc nhiễm khuẩn

3. Điều trị sốc nhiễm khuẩn:

3.1 Chẩn đoán:

Dựa trên triệu chứng

– Tiền sử về tiêm phòng vaccine, các bệnh lý chưa được điều trị dứt điểm hoặc các bệnh lý đã từng mắc phải.

– Chẩn đoán dựa vào một số yếu tố nguy cơ như: sinh non, bị suy dinh dưỡng, đã thực hiện một số thủ thuật can thiệp,…

– Dấu hiệu khởi phát: giúp phát hiện chính xác khu vực nhiễm trùng nguyên phát và tác nhân gây bệnh, ví dụ như nhiễm trùng đường hô hấp, đường tiêu hóa hay tiết niệu,…

– Bác sĩ cũng sẽ dựa vào các kết quả thăm khám lâm sàng để đưa ra kết luận chẩn đoán, bao gồm dựa vào các biểu hiện từ nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở để chẩn đoán hội chứng đáp ứng viêm toàn thân và biểu hiện sốc.

Cận lâm sàng:

Xét nghiệm máu.

– Cấy mẫu bệnh phẩm của ổ nhiễm khuẩn nghi ngờ như đàm, nước tiểu, mủ, phân,… Việc cấy mẫu này nên thực hiện trước khi dùng kháng sinh.

Cấy máu: Lấy mẫu trước khi tiêm kháng sinh qua tĩnh mạch.

Xét nghiệm CRPProcalcitonin.

Bác sĩ sẽ chẩn đoán phân biệt để xác định loại sốc, bao gồm sốc giảm thể tích, sốc tim và sốc phản vệ. Ngoài ra, bác sĩ cũng sẽ chẩn đoán mức độ nặng của bệnh dựa trên lactat máu tăng và tụt huyết áp không đáp ứng được thuốc vận mạch, đặc biệt là trong trường hợp bệnh nhân có tiên lượng nặng và xuất hiện suy đa tạng.

Chẩn đoán xác định: Theo 3 tiêu chí

– Nhiễm khuẩn nặng có nguồn gốc nhiễm khuẩn.

– Rối loạn chức năng của các cơ quan trong cơ thể.

Tụt huyết áp không đáp ứng với bù dịch.

3.2.Điều trị sốc nhiễm khuẩn:

– Để phục hồi tưới máu mô, bệnh nhân cần được bù dịch đường tĩnh mạch và đôi khi cần sử dụng thuốc vận mạch. Việc hỗ trợ oxy cũng là cần thiết. Ngoài ra, kháng sinh phổ rộng nên được sử dụng càng sớm càng tốt sau khi lấy mẫu để nhuộm Gram và nuôi cấy. Việc theo dõi các chỉ số như áp lực tĩnh mạch trung tâm, khí máu động mạch, nồng độ glucose, lactate và chức năng thận cũng rất quan trọng. 

– Nếu bệnh nhân bị sốc nhiễm khuẩn, điều trị cần được thực hiện trong khoa hồi sức tích cực (ICU). Cần theo dõi thường xuyên các chỉ số như áp lực tĩnh mạch trung tâm, áp lực bít động mạch phổi hoặc độ bão hòa oxy tĩnh mạch trung tâm, khí máu động mạch, nồng độ glucose, lactate và chức năng thận. Để đạt được sự tái tưới máu mô mà không gây phù phổi do quá tải thể tích, cần tối ưu hóa tiền gánh và bổ sung dịch ban đầu. 

– Việc sử dụng kháng sinh phải được đào tạo dựa trên nguồn nghi ngờ, thiết lập lâm sàng và các mô hình nhạy cảm phổ biến.

– Cần kiểm soát nguồn lây nhiễm sớm để đảm bảo hiệu quả điều trị. Việc loại bỏ các đường truyền tĩnh mạch và ống thông tiểu, ống nội khí quản nếu có thể hoặc thay đổi, cắt bỏ các mô hoại tử và viêm nhiễm như hoại tử túi mật, hoại tử mô mềm là cần thiết. Nếu không thể cắt bỏ được, phẫu thuật dẫn lưu có thể giúp ích. Nếu nguồn lây nhiễm không được kiểm soát, việc sử dụng kháng sinh không thể đạt hiệu quả.

– Ngoài ra, để hỗ trợ điều trị, bình thường hóa glucose máu là cần thiết để tăng cường phản ứng miễn dịch đối với nhiễm trùng. Truyền insulin tĩnh mạch liên tục để duy trì glucose trong khoảng từ 110 đến 180 mg/dL (7,7 đến 9,9 mmol/L). Việc đo lượng glucose cần được thực hiện thường xuyên.

– Điều trị corticosteroid có thể hữu ích đối với những bệnh nhân bị tụt huyết áp mặc dù đã được điều trị bằng truyền dịch, kiểm soát nguồn, kháng sinh và thuốc vận mạch. Đo nồng độ cortisol trước khi bắt đầu điều trị là không cần thiết. Liều điều trị bao gồm hydrocortisone 50mg tiêm tĩnh mạch mỗi 6 giờ (hoặc 100 mg mỗi 8 giờ) và tiếp tục điều trị dựa trên đáp ứng của bệnh nhân.

Nguồn tham khảo: 

 Seymour CW, Liu VX, Iwashyna TJ, et al: Assessment of clinical criteria for sepsis: For the third international consensus definitions for sepsis and septic shock (sepsis-3). JAMA 215(8):762–774, 2016. doi: 10.1001/jama.2016.0288

–  Bhattacharjee P, Edelson DP, Churpek MM: Identifying patients with sepsis on the hospital wards. Chest 151:898–907, 2017. doi: 10.1016/j.chest.2016.06.020

facebook
7302

Bài viết liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia