MỚI

Kết quả của chương trình sàng lọc ung thư đại trực tràng đầu tiên được tiến hành trên 103 542 người Việt Nam và tổng quan hệ thống các chương trình sàng lọc ung thư đại trực tràng ở khu vực châu Á Thái Bình Dương

Ngày xuất bản: 02/06/2023

Ung thư đại trực tràng là một trong những loại ung thư có tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đứng đầu trong các loại ung thư trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Mặc dù sàng lọc đã được công nhận là phương pháp hiệu quả nhằm phòng tránh và kiểm soát ung thư đại trực tràng, các chương trình sàng lọc ung thư đại trực tràng chưa được thực hiện ở Việt Nam.

Tác giả

Chi Thi-Du Tran (1,2,3), Mai Vu-Tuyet Nguyen (1), Mo Thi Tran (1), Thuy Thi-Van Tuong (1)Quang Hong Tran (1), Linh Cu Le (2), Huong Thi-Thu Pham (4), Nam Chi Bui (4), Hien Huy Vu (4), Tu Thi-Cam Nguyen (4), Phuong Que Ta (4), Hien Thi-Thu Ha (5), Dung Tuan Trinh (5,6)Hanh Thi-My Bui (5), Dien Quang Trinh (5), Khanh Van Nguyen (5), Song Huu Le (7), Khien Van Vu (8), Thuan Van Tran (9,10), Huong Thi-Thanh Tran (10), Martha J. Shrubsole (11), Fei Ye (11), Qiuyin Cai (11), Wei Zheng (11), Paolo Boffetta (12,13), Xiao-Ou Shu (11), Hung N. Luu (14,15)

Đơn vị công tác:
(1)
Vietnam Colorectal Cancer and Polyps Research Program, Vinmec Healthcare System, Hanoi, Vietnam, (2) College of Health Sciences, VinUniversity (VinUni), Hanoi, Vietnam, (3) Center of Applied Sciences, Regenerative Medicine and Advanced Technology (CARA), Vinmec Healthcare System, Hanoi, Vietnam, (4) Department of Gastroenterology, Vinmec International Hospital at Times City, Vinmec Healthcare System, Hanoi, Vietnam, (5) Department of Histopathology, Vinmec International Hospital at Times City, Vinmec Healthcare System, Hanoi, Vietnam, (6) Department of Histopathology, Tam Anh General Hospital, Hanoi, Vietnam, (7) Center of Molecular and Genetic Research, 108 Hospital, Hanoi, Vietnam, (8) Department of Gastroenterology, 108 Hospital, Hanoi, Vietnam, (9) Vietnam Ministry of Health, Hanoi, Vietnam, (10) Vietnam National Cancer Institute, Vietnam National Cancer Hospital, Hanoi, Vietnam, (11) Division of Epidemiology, Department of Medicine, Vanderbilt Epidemiology Center and Vanderbilt-Ingram Cancer Center, Vanderbilt University School of Medicine, Nashville, TN, USA, (12) Stony Brook Cancer Center, Stony Brooke University, Stony Brook, NY, USA, (13) Department of Medical and Surgical Sciences, University of Bologna, Bologna, Italy, (14) UPMC Hillman Cancer Center, University of Pittsburgh Medical Center (UPMC), Pittsburgh, PA, USA and (15) Department of Epidemiology, Graduate School of Public Health, University of Pittsburgh, Pittsburgh, PA, USA 

  1.  

Phương pháp: Từ ngày 1 tháng 1 năm 2018 tới ngày 31 tháng 10 năm 2019, chương trình sàng lọc ung thư đại trực tràng dựa trên cộng đồng đã được thực hiện tại Hà Nội, Việt Nam. Các cư dân từ 40 tuổi trở lên đã được mời tham gia thông qua các chương trình truyền thông kết hợp với liên hệ qua điện thoại. Người tham gia thực hiện xét nghiệm hóa sinh miễn dịch phát hiện máu ẩn trong phân. Những người có kết quả xét nghiệm dương tính được mời làm nội soi đại trực tràng. Chúng tôi cũng đã thực hiện một phân tích tổng quan hệ thống về các chương trình sàng lọc ung thư đại trực tràng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương sử dụng các phương pháp sàng lọc tương tự như chương trình của chúng tôi, dựa trên cơ sở dữ liệu được công bố trên Ovid Medline và PubMed.

Kết quả: Trong thời gian thực hiện sàng lọc, 103 542 trong số 672 742 người đủ tiêu chuẩn đã tham gia sàng lọc trong đó 81,5% số người tham gia đã hoàn thành xét nghiệm phát hiện máu ẩn trong phân với tỷ lệ xét nghiệm dương tính là 6,1%. Tỷ lệ bao phủ quần thể đích của xét nghiệm này là 11,9%. Trong số 2278 người thực hiện nội soi đại trực tràng, 3,1% được phát hiện có ung thư đại trực tràng, 17,8% có polyp tuyến tiến triển (advanced adenomas), và 23,1% có polyp tuyến chưa tiến triển (non-advanced adenomas) được khẳng định bằng xét nghiệm tế bào. Tỷ lệ nam giới có polyp tuyến tiến triển, ung thư hoặc có ≥ hai polyp/khối u cao hơn so với nữ giới (P<0,0001). Kết quả phân tích tổng quan hệ thống cho thấy đối với phương thức sàng lọc hai bước (xét nghiệm hóa sinh miễn dịch phát hiện máu ẩn trong phân và nội soi đại trực tràng), tỷ lệ xét nghiệm phân dương tính nằm trong khoảng từ 4,1 đến 10,6%. Khi nội soi được thực hiện ở những người có xét nghiệm phân dương tính, tỷ lệ phát hiện ung thư đại trực tràng nằm trong khoảng từ 1,7% đến 16,4% và tỷ lệ phát hiện polyp tuyến tiến triển nằm trong khoảng từ 7,1% đến 23,1%. 

Kết luận: Kết quả sàng lọc cho thấy phương thức sàng lọc hai bước là một chiến lược tiềm năng để tầm soát ung thư đại trực tràng ở Việt Nam và có thể áp dụng cho những khu vực có nguồn lực hạn chế tương tự. 

Từ khóa: colorectal cancer, colorectal polyp, adenomas, screening, Vietnam

facebook
22

Bài viết liên quan

Thuốc liên quan

Tương tác thuốc liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia