MỚI

Cập nhật các bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ điều trị ở bệnh nhân tim mạch năm 2022

Ngày xuất bản: 30/11/2022

Hiện nay, kém tuân thủ điều trị là một trong những nguyên nhân quan trọng gây tăng tỷ lệ nhập viện và tử vong ở bệnh nhân tim mạch. Vì vậy, cần phải có những bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ điều trị phù hợp và đáng tin cậy trên những bệnh nhân này. Hiện nay có nhiều bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ điều trị được ứng dụng trên lâm sàng như MAQ, HBCS, SEAMS, ACDS, ASRQ… Qua bài tổng quan này, nhóm tác giả hướng đến cung cấp thông tin một cách hệ thống về một số bộ câu hỏi có ứng dụng rộng rãi trong đánh giá tuân thủ điều trị trên các bệnh nhân tim mạch như tăng huyết áp, bệnh mạch vành. Từ đó đánh giá về ưu, nhược điểm của các bộ câu hỏi này trong quản lý tuân thủ của bệnh nhân.

Tác giả: PGS.TS.DS. Phạm Thành Suôl; DS. Nguyễn Thiên Vũ; Trương Văn Hòa; PGS.TS.DS. Nguyễn Thắng – Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
PGS.TS.DS. Nguyễn Hương Thảo – Bộ môn Dược lâm sàng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
GS.TS.BS. Huỳnh Văn Minh – Trường Đại học Y Dược Huế

1. Đặt vấn đề

Bệnh lý tim mạch, một trong nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, đang ngày một gia tăng. Việc kém tuân thủ điều trị là một yếu tố dẫn đến thất bại điều trị và tiến triển các biến chứng nghiêm trọng. Theo một số nghiên cứu lớn như Yang và cộng sự (2017), tại Hoa kỳ, 40% bệnh nhân tăng huyết áp trong độ tuổi 66 – 70 không tuân thủ việc dùng thuốc theo đơn; hay nghiên cứu Roy et al.2013, tại Quebec, Canada, khoảng 20% bệnh nhân trong độ tuổi 45 – 85 không tuân thủ dùng thuốc điều trị tăng huyết áp. Trong số bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị, 53% kém tuân thủ điều trị các thuốc huyết áp. Khi huyết áp không được kiểm soát, nhiều biến chứng tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ,… có thể phát triển, tăng gánh nặng chi phí điều trị do tăng liều lượng, số lượng thuốc không cần thiết cũng như tăng nguy cơ tử vong. Trong hoàn cảnh không có nhiều nhóm thuốc mới phát triển, việc phối hợp hiệu quả và đảm bảo tuân thủ điều trị đóng vai trò quan trọng, đặc biệt cần có công cụ để kiểm soát việc tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân.

Hiện nay, đánh giá tuân thủ điều trị bằng các bộ câu hỏi được thiết kế trước là phương pháp phổ biến, dễ áp dụng. Ngoài ra, một số phương pháp khác đã và đang được nghiên cứu để đánh giá khách quan, tin cậy hơn, gồm: kiểm tra số lượng viên thuốc thực tế còn lại của bệnh nhân, hoặc đo nồng độ thuốc trong máu (TDM) tại thời điểm tái khám. Các phương pháp này có tính khách quan, chi tiết nhưng hiện không được áp dụng rộng rãi. Do đó, việc tối ưu các bộ câu hỏi vẫn là mối quan tâm chủ yếu hiện nay, đôi khi, bệnh nhân không trả lời đúng sự thật mà muốn làm hài lòng bác sĩ điều trị. Một bộ câu hỏi tốt đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu sai số khi đánh giá giúp bác sĩ có kết quả tin cậy hơn.

Trong bài tổng quan này, nhóm tác giả muốn cung cấp những thông tin chung cũng như làm rõ những ưu điểm, nhược điểm các bộ câu hỏi từ đó người điều trị có thêm được tài liệu tham khảo và có thể lựa chọn được công cụ phù hợp giúp đánh giá tuân thủ điều trị trong hoạt động chuyên môn của mình.

2. Các bộ câu hỏi tuân thủ điều trị

Nhiều bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ điều trị hiện nay được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau, đồng thời được điều chỉnh và thẩm định phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội nơi sử dụng. Tuy vậy, không có bộ câu hỏi nào luôn là tối ưu cho mọi trường hợp. Độ tin cậy, tính giá trị, độ nhạy, độ đặc hiệu, tính phổ biến và mục đích sử dụng của bộ câu hỏi là các tiêu chí thường được dùng trong đánh giá một bộ câu hỏi.

Bảng 1: Thông tin đánh giá chung một số bộ câu hỏi phỏng vấn tuân thủ điều trị

Bộ câu hỏi

Tácgiả

Số câu hỏi

Cronbach’sa

Bệnh áp dụng

MMAS – 4

Morisky

4

0.61

Tăng huyết áp

MMAS – 8

Morisky

8

0.83

Các bệnh mạn tính

HDCS

M.T. Kim và cộng sự

14

0.79

Tăng huyết áp

SEAMS

Riser và cộng sự

13

0.89

Bệnh mạch vành

ACDS

Aldona Kubica

8

0.75

Các bệnh mạn tính

ASRQ

Zaller và cộng sự

6

 

Tăng huyết áp

MARS

Robert Horne

5

0.67 – 0.89

Các bệnh mạn tính

GMAS

Atta Abbas Naqvi

11

0.84

Các bệnh mãn tính

Bộ câu hỏi tuân thủ điều trị MAQ

Bộ câu hỏi tuân thủ điều trị (Medication Adherence Questionnaire, MAQ) được phát triển lần đầu vào năm 1986 bởi Morisky và các cộng sự (1986) để đánh giá tuân thủ điều trị trên bệnh nhân tăng huyết áp, gồm cả điều trị dùng thuốc và thay đổi lối sống. Bộ câu hỏi MAQ gồm thang Morisky 4 câu hỏi (MMAS-4) đề xuất năm 1986 và dạng bổ sung là thang Morisky 8 câu hỏi (MMAS-8) đề xuất năm 2008, đều có bản gốc bằng tiếng Anh. Đến nay cả thang đo tuân thủ điều trị này đã được dịch sang 33 ngôn ngữ khác nhau và sử dụng rộng rãi trong các bệnh lý khác nhau như tăng huyết áp, các bệnh tim mạch, đái tháo đường, hen, loãng xương, các rối loạn tâm lý, Parkinson, ung thư.

Bộ câu hỏi MMAS-4

Đây là công cụ giúp đánh giá mức độ tuân thủ điều trị cũng như những rào cản bệnh nhân tuân thủ điều trị. Bộ câu hỏi MMAS-4 bao gồm 4 câu hỏi “đóng” (có hoặc không), đánh giá việc tuân thủ của bệnh nhân cả 2 góc độ là không chủ ý (2 câu hỏi đầu) hay do có chủ ý (2 câu hỏi sau). Nội dung của bảng câu hỏi được thể hiện như bảng 2. Ưu điểm chính của bộ câu hỏi MMAS-4 là giúp đánh giá nhanh thái độ tuân thủ của bệnh nhân khi dùng thuốc, song bảng hỏi này gặp phải vấn đề về tính tin cậy, bệnh nhân dễ bị yếu tố tâm lý chi phối trong khi trả lời, có xu hướng trả lời làm hài lòng bác sĩ. Độ nhạy và độ đặc hiệu của bảng hỏi này lần lượt là 81% và 44% với độ tin cậy Cronbach’alpha là 0,61, dưới mức chấp nhận được giá trị 0,7. Dù vậy, MMAS-4 vẫn đang được sử dụng phổ biến.

Bộ câu hỏi MMAS-8

Bộ câu hỏi MMAS-8 gồm 8 câu hỏi gồm 7 câu hỏi “đóng” và 1 câu hỏi đánh giá mức độ, được trình bày ở bảng 3. So với bộ câu hỏi MMAS-4, các câu hỏi bổ sung tập trung vào đánh giá các hành vi chữa bệnh, đặc biệt là liên quan đến việc sử dụng, chẳng hạn như quên thuốc khi rời nhà, du lịch, khi cảm thấy bất tiện khi sử dụng. Các rào cản tuân thủ có thể được xác định nhiều hơn và rõ ràng hơn. Độ nhạy và độ đặc hiệu của bộ câu hỏi MMAS-8 cũng cao hơn, lần lượt là 93% và 53% với độ tin cậy Cronbach’alpha là 0,83. Ưu điểm của cả hai thang đo trên là sự dễ hiểu và khả năng ứng dụng rộng rãi trên nhiều nhóm bệnh nhân khác nhau, chẳng hạn những bệnh nhân bị tăng huyết áp hoặc bệnh mạch vành. Tuy nhiên, nhược điểm chính của MAQ là không cho phép đánh giá toàn diện về tuân thủ vì không cung cấp thông tin đầy đủ về các rào cản tuân thủ dùng thuốc.

Bộ câu hỏi tuân thủ điều trị HBCS

Bộ câu hỏi tuân thủ điều trị Hill-Bone (Hill-Bone Compliance Scale, HBCS) là thang đo được dùng đánh giá tuân thủ điều trị trên bệnh nhân tăng huyết áp được phát triển vào năm 2000, bởi Kim và cộng sự. Thang đo này đánh giá hành vi của bệnh nhân trên 3 mặt: (1) tuân thủ tiết chế muối (natri), (2) tuân thủ duy trì cuộc hẹn với bác sĩ và (3) tuân thủ dùng thuốc, gồm có 14 câu hỏi và mỗi câu hỏi có 4 mức đánh giá gồm: không bao giờ, đôi khi, thường xuyên và luôn luôn (Bảng 4). Bộ câu hỏi này được nghiên cứu ứng dụng đánh giá tuân thủ điều trị trên bệnh nhân tăng huyết áp ở các thành phố và chủ yếu trên bệnh nhân da đen như Nam Phi. Tuy được phát triển bằng tiếng Anh, nhưng sau đó bộ câu hỏi được dịch sang tiếng Xhosa (Nam Phi) vì đây là quần thể đích trong khảo sát tuân thủ điều trị. Ngoài tăng huyết áp, các bệnh được áp dụng hiện nay bởi bộ câu hỏi này gồm đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và đột quỵ. Đây là bộ công cụ nhanh và hiệu quả đánh giá tuân thủ điều trị trên bệnh nhân tăng huyết áp. Bộ câu hỏi thiết kế dựa trên mối liên quan chặt chẽ giữa hành vi tuân thủ điều trị đến hiệu quả kiểm soát huyết áp. Độ tin cậy Cronbach’a của bộ câu hỏi này là 0,79. Một đặc điểm đáng chú ý khác là các nghiên cứu chỉ ra đặc tính tâm lý bệnh nhân ở thang đo HBCS trái ngược so với thang đo MAQ, do đó không khuyến cáo sử dụng đồng thời hai thang đó này khi đánh giá tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân.

Bộ câu hỏi tuân thủ điều trị SEAMS

Bộ câu hỏi Self–Efficacy for Appropriate Medication Adherence Scale (SEAMS) được phát triển bởi Risser và cộng sự vào năm 2007 được dùng để đánh giá thái độ dùng thuốc trên bệnh nhân mắc bệnh mạch vành và một số bệnh đồng mắc như đái tháo đường, tăng huyết áp hay tăng cholesterol máu. Mục tiêu của bộ câu hỏi này là phát hiện những rào cản làm giảm mức độ tuân thủ dùng thuốc của các bệnh nhân. Bộ câu hỏi khởi đầu được phát triển bằng tiếng Anh, gồm 21 câu hỏi, sau đó số câu hỏi này được rút gọn và cuối cùng gồm 13 câu hỏi được trình bày ở Bảng 5; đánh giá 3 vấn đề chính: niềm tin và thái độ tuân thủ, hoàn thành liệu trình dùng thuốc và thay đổi lối sống. Niềm tin về việc dùng thuốc trong tình huống việc dùng thuốc gặp khó khăn, chẳng hạn như công việc bận rộn, xa nhà, hoặc phải dùng nhiều thuốc cùng lúc, hai là khi bệnh nhân không năm chắc cách dùng thuốc hoặc được chỉ định thay đổi điều trị dùng thuốc.

Độ tin cậy của bộ câu hỏi SEAMS rất cao với điểm Cronbach’s a là 0,89, đó đó được coi là một công cụ tuyệt vời và hữu dụng đánh giá tuân thủ điều trị, kể cả trên các đối tượng hạn chế trong khả năng đọc và viết. Tuy nhiên, nhược điểm chính của bộ câu hỏi này là số câu hỏi nhiều, kéo dài và gây mất thời gian trong khảo sát.

Bộ câu hỏi tuân thủ điều trị ACDS

Bộ câu hỏi Adult ADHD Clinical Diagnostic Scale (ACDS) được A.Kubica phát triển năm 2016 nhằm đánh giá tuân thủ điều trị trên bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính, với nguyên bản tiếng Anh. Bộ câu hỏi được áp dụng trong một nghiên cứu trên bệnh nhân bệnh lý mạch vành, gồm 8 câu hỏi dạng lựa chọn được trình bài ở Bảng 6.

Có thể thấy 4 câu hỏi (1, 3, 4, 5) liên quan đến việc tuân thủ thuốc thường xuyên của bệnh nhân, câu 2, 6 liên quan đến nhận thức tầm quan trọng và gánh nặng của việc dùng thuốc và câu 7, 8 liên quan đến đồng thuận giữa nhà điều trị và bệnh nhân. Các mức độ tuân thủ điều trị kém, trung bình và cao ứng với các mức điểm thấp hơn 21, từ 21 – 26 và trên 26 điểm. Độ tin cậy của bộ câu hỏi đạt Cronbach’s a là 0,75; đơn giản, dễ sử dụng hằng ngày. Đánh giá được thái độ và quan điểm của bệnh nhân và các rào cản tuân thủ điều trị được coi là thế mạnh của thang đo ASCD.

Bộ câu hỏi tuân thủ điều trị ASRQ

Bộ câu hỏi Adherence self-report questionnaire (ASRQ) được phát triển bởi Zeller và đồng sự vào năm 2008 và có ngôn ngữ gốc là tiếng Anh, dùng đánh giá dùng thuốc trên bệnh nhân tăng huyết áp như một tiêu chuẩn vàng. Thang đo này thu thập dữ liệu về tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân, với 6 mức độ (từ hoàn toàn tuân thủ đến không tuân thủ). Các câu hỏi được thể hiện như Bảng 7.

Ưu điểm chính của thang đo này là có độ đặc hiệu cao, đạt đến 90-93% tuy nhiên độ nhạy lại khá thấp (14 – 42% đối với nhóm không tuân thủ và 22 – 66% đối với nhóm tuân thủ kém đến trung bình).

Bộ câu hỏi tuân thủ điều trị GMAS

Bộ câu hỏi General Medication Adherence Scale (GMAS) là thang đo đánh giá tuân thủ dùng thuốc của tác giả Atta Abbas Naqvi ở Pakistan. Hiện ông đang sinh sống và làm việc tại Malaysia. Bộ câu hỏi này phù hợp và thuận lợi cho việc đánh giá tuân thủ dùng thuốc nhờ có nhiều điểm lợi. Thứ nhất, về nội dung, bộ câu hỏi gồm tương đối đầy đủ các khía cạnh của không tuân thủ (liên quan tới hành vi bao gồm có hay không có chủ ý, bệnh nhân có bệnh kèm) đặc biệt là có khía cạnh chi phí. Thứ hai, các tiêu chí bộ câu hỏi cho kết quả tốt. Về độ tin cậy, giá trị Cronbach’s alpha 0.84, test-retest với hệ số tương quan 0.996. Thứ ba, bộ câu hỏi ngắn gọn giúp đánh giá tuân thủ dùng thuốc dễ dàng, nhanh chóng. Thang đo GMAS lần đầu tiên được đăng trên tập chí Frontiers in Pharmacology vào năm 2018. Hiện tại thang đo GMAS đã được dịch thuật, điều chỉnh sang tiếng anh và Ả Rập. Thang đo gồm 11 câu hỏi với mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn luôn luôn, hầu hết, thỉnh thoảng, không bao giờ. Thang đo có thể áp dụng cho nhiều bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, suy tim, hen suyễn…

3. Kết luận

Trong điều trị dùng thuốc trên bệnh nhân tim mạch, đánh giá tuân thủ điều trị là rất quan trọng nhằm tối ưu hóa điều trị và giảm nguy cơ thất bại điều trị. Có nhiều bộ câu hỏi đánh giá, mỗi bộ câu hỏi có ưu và nhược điểm riêng. Do đó, tùy thuộc vào mục đích sử dụng, đặc thù về kinh tê, xã hội và căn cứ vào độ tin cậy của các bộ câu hỏi, khi thực hành lâm sàng nên có lựa chọn và điều chỉnh phù hợp để khai thác hiệu quả về mức độ tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân, từ đó đưa ra chiến lược sử dụng thuốc trong điều trị hiệu quả.

Tài liệu tham khảo

  1. Su M.; Haldane V.; Upshur R., The Impact of Treatment Adherence for Patients With Diabetes and Hypertension on Cardiovascular Disease Risk: Protocol for a Retrospective Cohort Study, 2008-2018. JMIR Res Protoc. 2019 May 31;8(5):e13571
  2. Mohammed Awais Hameed, MB, ChB1, 2 and Indranil Dasgupta, DM. Medication adherence and treatment-resistant hypertension: a review. Drugs Context. 2019; 8: 212560. Published online 2019 Feb 4.
  3. Burnier M., Egan BM. Adherence in Hypertension. A Review of Prevalence, Risk Factors, Impact, and Management.
  4. Burnier M. Monitoring of drug adherence in hypertension.
  5. Kronish IM., MPH and Ye S., Adherence to Cardiovascular Medications: Lessons Learned and Future Directions. Prog Cardiovasc Dis. 2013; 55(6): 590–600.
  6. Morisky DE, Green LW, Levine DM. Concurrent and predictive validity of a self-reported measure of medication adherence. Med Care. 1986 Jan; 24(1):67-74.
  7. Kubica A, Kosobucka A, Michalski P et al. Self-reported questionnaires for assessment adherence to treatment in patients with cardiovascular diseases. Medical Research Journal 2017; 2(4):115-122.
  8. Lam WY and Fresco P. Medication Adherence Measures: An Overview. Biomed Res Int. 2015; 2015: 217047.
  9. Yan J, You LM, Yang Q et al. Translation and validation of a Chinese version of the 8-item Morisky medication adherence scale in myocardial infarction patients. J Eval Clin Pract. 2014 Aug;20(4):311-7.
  10. Toll BA, McKee SA, Martin DJ. Factor structure and validity of the Medication Adherence Questionnaire (MAQ)withcigarettesmokerstryingtoquit. Nicotine Tob Res. 2007 May; 9(5): 597–605.
  11. Marcum ZA, Zheng Y, Perera Setal. PrevalenceandCorrelatesof Self-Reported Medication NonAdherence among Older Adults with Coronary Heart Disease, Diabetes Mellitus, and/or Hypertension. Res Social Adm Pharm. 2013; 9(6).
  12. http://timmachhoc.vn/su-tuan-tri-do-an-toan-do-dung-nap-va-hieu-qua-cua-vien-phoi-hop-lieu- co-dinh-peridopril-amlodipin-o-benh-nhan-hy-lap-co-tang-huyet-ap-va-benh-mach-vanh-on-dinh- mot-nghien-cuu-quan-sat-tien-cuu-tren-t/
  13. Mannapperuma U, Galappatthy P, Silva VA. ValidationoftheSinhalaversionoftheMoriskyMedicationAdherence Scale to determine medication adherence in patients with bipolar affective disorder on lithium therapy.
  14. Donald E Morisky, M Robin DiMatteo. Improving the measurement of self-reported medication nonadherence: Response to Authors. Journal of clinical epidemiology 64(3):255-7.
  15. Risser J, Jacobson TA, Kripalani S. Development and Psychometric Evaluation of the Self-Efficacy for Appropriate Medication Use Scale (SEAMS) in Low-Literacy Patients With Chronic Disease. Journal of Nursing Measurement, Volume 15, Number 3, 2007.
  1. Naqvi A. A., Hassali M. A., Rizvi M. et al. (2018), “Development and validation of a novel General Medication Adherence Scale (GMAS) for chronic illness patients in Pakistan”, Frontiers in pharmacology. 9, 1124.
  2. Naqvi A. A., Hassali M. A., Jahangir A. et al. (2019), “Translation and validation of the English version of the general medication adherence scale (GMAS) in patients with chronic illnesses”, Journal of Drug Assessment. 8 (1), 36-42.
  3. Naqvi A. A., Al-Shayban D. M., Ghori S. A. et al. (2019), “Validation of the General Medication Adherence Scale (GMAS) in Saudi patients with chronic disease”, Frontiers in pharmacology. 10, 633.
  4. Thang Nguyen, Thao H Nguyen, Suol T Pham, et al. Translation and Cross-Cultural Adaptation of the Brief Illness Perception Questionnaire, the Beliefs About Medicines Questionnaire and the Morisky Medication Adherence Scale Into Vietnamese.

Trích nguồn: Tạp chí Tim mạch học Việt Nam

Bản quyền và thương hiệu:
Thông tin và hình ảnh trên website thuộc quyền sở hữu của VinmecDr. Việc sao chép, sử dụng phải được VinmecDr chấp thuận trước bằng văn bản.

Miễn trừ trách nhiệm:
Tất cả những tư liệu được cung cấp trên website này đều mang tính tham khảo. Do đó, nội dung và hình ảnh sẽ được thay đổi, cập nhật và cải tiến thường xuyên mà không phải thông báo trước. VinmecDr không bảo đảm về độ chính xác cũng như sự hoàn thiện về thông tin. Chúng tôi không chịu trách nhiệm pháp lý cho những thiệt hại xuất hiện trực tiếp hay gián tiếp từ việc sử dụng hoặc hành động dựa theo những thông tin trên hoặc một số thông tin xuất hiện trên website này. VinmecDr không chịu trách nhiệm pháp lý về những sai sót, lỗi chính tả… do nhập liệu cùng với những sự cố khách quan khác như: nhiễm virus, hành vi phá hoại, ác ý… xảy ra trên website này cũng như các website liên kết, nếu có.

Đường link liên kết:
VinmecDr sẽ không chịu trách nhiệm hay có nghĩa vụ pháp lý dưới bất kỳ hình thức nào về nội dung của những website không thuộc VinmecDr được liên kết với website www.vinmecdr.com, bao gồm các sản phẩm, dịch vụ và những mặt hàng khác được giới thiệu thông qua những website đó.

facebook
619

Bài viết liên quan

Thuốc liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia