MỚI

ASO 2020: Hướng dẫn sử dụng siêu âm tim qua thực quản (TEE) để hỗ trợ chẩn đoán trong phẫu thuật (phần tiếp theo)

Ngày xuất bản: 04/01/2023

Hướng dẫn của ASO (Hội siêu âm tim hoa kỳ) về việc sử dụng kỹ thuật siêu âm tim qua thực quản (TEE) trong phòng mổ để hỗ trợ đánh giá cấu trúc và chức năng van ba lá và các cấu trúc liên quan trước, trong và sau phẫu thuật ngoại khoa thực hiện trên bệnh nhân có bệnh lý về van ba lá.

Bảng 14 Những lưu ý trong chẩn đoán hình ảnh ở bệnh nhân đã từng thay tim nhân tạo toàn bộ

TIỀN PHẪU

Kiểm tra tâm nhĩ trái và phải cũng như phần phụ nhĩ trái và loại bỏ huyết khối.

Kiểm tra TMP trái và phải, các tài liệu về kích thước và lưu lượng TMP (Dùng SA Doppler sóng xung để biết vận tốc và dữ liệu dòng máu).

Kiểm tra các điểm nối nhĩ phải-TMC trên và dưới để phát hiện các hiện tượng hẹp, huyết khối hay có gắn thiết bị y tế.

HẬU PHẪU

Theo dõi sự có mặt của khí trong tâm nhĩ và trong ĐMP chính và ĐMC trên.

Đánh giá lại kích thước của tâm nhĩ và lưu lượng TMP (Vận tốc và dữ liệu dòng máu) để loại trừ hiện tượng xoắn hoặc chèn ép từ bên ngoài.

Khi dòng chảy ĐMP bị cản trở, cần nghi ngờ nếu mất thì tâm thu hoặc tâm trương và sử dụng SA Doppler dòng màu để phát hiện gia tốc và vận tốc dòng máu tăng trên ngưỡng bình thường.

Cần đo độ chênh lệch huyết áp và tần số tim tương ứng của van 2 lá và 3 lá nhân tạo để so sánh với các lần kiểm tra sau.

Viết tắt: CFD: Doppler dòng màu; IVC: tĩnh mạch chủ dưới, LAA: phần phụ nhĩ trái; PA: động mạch phổi; PV: tĩnh mạch phổi; RA: tâm nhĩ phải.


Hình 11 Đề xuất phác đồ chẩn đoán hình ảnh từ khung nhìn 4 buồng thực quản giữa để đánh giá trước khi triển khai oxy hóa màng ngoài cơ thể (ECMO). Viết tắt: 2C: hai buồng; 4C: bốn buồng; AV: van động mạch chủ; IVC: tĩnh mạch chủ dưới; LA: trái

tâm nhĩ; LV: tâm thất trái; ME: thực quản giữa; RV: tâm thất phải; SAX: trục ngắn; SVC: tĩnh mạch chủ trên; TEE: siêu âm tim qua thực quản; TG: xuyên dạ dày.


Hình 12 Đề xuất phác đồ chẩn đoán hình ảnh từ khung nhìn 4 buồng thực quản giữa để đánh giá sau khi triển khai oxy hóa màng ngoài cơ thể (ECMO). Viết tắt: 2C: Hai buồng; 4C: bốn buồng; AV: van động mạch chủ; LV: tâm thất trái; ME: thực quản; SAX: trục ngắn; TEE: siêu âm tim qua thực quản; TG: xuyên dạ dày; VA: TM-ĐM; VV: TM-TM.

Đánh giá chức năng tâm trương rất hữu ích trong việc điều hòa huyết động. Đồ thị thư giãn suy giảm sẽ cho thấy sự phụ thuộc vào tiền gánh và sự co bóp của tâm nhĩ, trong khi đồ thị hạn chế có thể cho thấy sự phụ thuộc vào nhịp tim để duy trì cung lượng tim thích hợp khi có thể tích đột quỵ cố định (57,58). Cần lưu ý sự rối loạn chức năng van tim do bất kỳ tổn thương quan trọng nào không được phát hiện đều có thể dẫn đến việc thay đổi chỉ định phẫu thuật (ví dụ: sửa chữa hoặc thay thế van 2 lá cho thể hở 2 lá vừa hoặc nặng, hoặc thay thế van ĐMC cho thể hẹp ĐMC nặng) hoặc thay đổi chỉ định tưới máu (ví dụ, đau tim ngược dòng, hoặc đặt lỗ thông thất trái nếu có hở van ĐMC đáng kể). Cuối cùng, CĐHA tiền phẫu nên bao gồm việc đánh giá động mạch chủ xuống, cung ĐMC và ĐMC lên để biết có xuất hiện mảng xơ vữa không. Bệnh xơ vữa động mạch nghiêm trọng có thể tác động đến vị trí bít tắc ĐMC, đặt kẹp chéo động mạch chủ hoặc đặt bơm bóng trong động mạch chủ để hỗ trợ huyết động. Vì không thể nhìn thấy vị trí bít tắc ĐMC bằng TEE nên khi có xuất hiện mảng xơ vữa đáng kể ở các vị trí khác nhau của ĐMC, bác sĩ phẫu thuật có thể sử dụng hình ảnh siêu âm động mạch chủ (59).

4.2. Đánh giá hậu phẫu

  TEE là công cụ tinh chỉnh hỗ trợ tiền gánh, hậu gánh và hỗ trợ co thắt khi tách khỏi tim phổi nhân tạo bằng cách cung cấp thông tin về giải phẫu và chức năng liên quan đến tống máu và chức năng của thất trái và thất phải. Sau thủ thuật nên thực hiện một cuộc kiểm tra TEE toàn diện để giải quyết các vấn đề cụ thể sau: (1) Đánh giá chức năng cơ tim khu vực và toàn bộ, đặc biệt trong các phân đoạn được tưới máu bởi các mạch vành bị bắc cầu; kiểm tra này nên được thực hiện định kỳ giai đoạn sau ECMO vì sự co thắt đoạn tiếp nối có thể xảy ra bất cứ lúc nào nhưng đặc biệt là sau khi gắn xương ức; (2) Phát hiện các biến chứng đáng chú ý liên quan đến quá trình đông máu (ví dụ, bóc tách động mạch chủ ở động mạch chủ lên), thông khí và bảo toàn cơ tim; và (3) Đánh giá chức năng van tim. Các điểm quan trọng trong đánh giá quy trình trước và sau phẫu thuật bắc cầu ĐM vành đã được trình bày trong Bảng 8.

5. Phẫu thuật ĐMC

5.1. Đánh giá tiền phẫu

Các hướng dẫn của ASE/SCA về siêu âm tim qua thực quản (TEE) toàn diện đề xuất một cách tiếp cận có hệ thống để có thể chụp hình ảnh động mạch chủ ngực từ gốc ĐMC đến ĐMC dưới (8). Sử dụng hình ảnh đa chiều sẽ đảm bảo có thể chụp được hình ảnh gốc động mạch chủ và đoạn gần của ĐMC trên mà ta cần với kích thước lớn nhất được đo vuông góc với trục dài của mạch. Theo quy ước, các phép đo của gốc ĐMC, tức là các xoang Valsalva, chỗ nối ống xoang và thân động mạch chủ trên trước khi phân nhánh được ưu tiên thực hiện trong thì tâm trương (9); Tuy nhiên, cần lưu ý vì các phòng siêu âm tim thường thực hiện các phép đo này trong thời gian tâm thu. Ngoài ra, phép đo cần có sự tái tạo cấu trúc đa mặt phẳng của các khối lượng dữ liệu 3D. Các bất thường ở động mạch chủ ngực đoạn xuống có thể được khu trú bằng cách mô tả vị trí của tổn thương bằng khoảng cách từ điểm gốc của ĐM dưới đòn trái, vị trí trên thành mạch so với vị trí của thực quản (ví dụ: thành đối diện với thực quản) hoặc độ sâu của đầu dò từ răng cửa.

5.2. Đánh giá một số bệnh lý động mạch chủ cụ thể

Đánh giá mảng xơ vữa. – TEE được khuyến nghị là lựa chọn đầu tiên trong các phương pháp CĐHA để chẩn đoán xơ vữa động mạch chủ theo tài liệu hướng dẫn ASE năm 2015 về hình ảnh đa phương thức đối với các bệnh của động mạch chủ ngực (60). Dựa trên việc xem xét một số sơ đồ phân loại, các hướng dẫn của ASE khuyến cáo phân loại bệnh xơ vữa động mạch chủ theo độ dày tăng dần của tổn thương: Độ 1 (bề dày nội mạc <2mm), độ 2 (bề dày nội mạc khoảng 2-3mm), độ 3 (bề dày mảng xơ vữa 3-5mm), độ 4 (bề dày mảng xơ vữa > 5mm), và lớp 5 (bề dày mảng xơ vữa bất kì có các thành phần di động hoặc lở loét) (60). Một số hạn chế đối với đánh giá qua TEE của bệnh xơ vữa động mạch chủ là: Xuất hiện hình ảnh của các cơ quan, bộ phận trường gần, phép đo một chiều của tổn thương ba chiều, không tính được tổng diện tích mảng bám (tức là ”gánh nặng mảng xơ vữa”) và đánh giá chủ quan về đặc điểm mảng xơ vữa (ví dụ: mật độ, kết cấu, sự hiện diện của các mảng vôi hóa).

facebook
5

Bài viết liên quan

Bình luận0

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Bài viết cùng chuyên gia